PHẦN I
THÁNH ÂU TINH: VỊ THÁNH CỦA THỜI ĐẠI MỚI
1. Ý thức của Phương Tây.
2. Tuổi trẻ hư hỏng.
3. “Hãy cầm lấy mà đọc!”.
4. “Au Tinh, Linh Mục!”.
5. Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh.
PHẦN II
GIÔNG TỐ MỌI RỢ VÀ NHỮNG ĐẬP CẢN CỦA GIÁO HỘI
1. Mọi Rợ.
2. Các giai đoạn xâm nhập lớn.
3. “Thế Giới Đầu Bạc”
4. Giáo Hội trẻ trung.
5. Đem lại thảm kịch một ý nghĩa.
6. Những đập cản của Giáo Hội
7. Đối diện người mọi rợ.
8. Liên minh chống Hung Nô.
9. Thánh Lêô Cả và Giáo Hoàng Chế.
10. Ngày tàn của Đế Quốc Tây Lamã.
11. Rợ Gốt theo lạc giáo Ariô và người Lamã Công Giáo.
12. Giải pháp Vandale và giải pháp Đông Gốt đều thất bại
MỞ ĐẦU
Lịch Sử Giáo Hội Thời Trung Cổ có thể chia làm ba thời kỳ: Đầu Thời Trung Cổ, từ thế kỷ V đến giữa thế kỷ XI; Thời Trung Cổ thật sự từ giữa thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIV và Cuối Thời Trung Cổ, từ giữa thế kỷ XIV đến năm 1453, là năm thành Constantinôpôli bị Hồi Giáo chiếm, Đế Quốc Đông Lamã sụp đổ.
Tập này nói về Lịch Sử Giáo Hội Đầu Thời Trung Cổ, gọi là Thời Mọi Rợ, gồm khoảng hơn 600 năm. Trước hết Giáo Hội đã cố gắng chống bão tố Mọi Rợ, rồi làm cho người Mọi Rợ trở lại. Thế kỷ VII, khi Hồi Giáo xuất hiện, Giáo Hội hướng về Lục Địa, giúp Caralô Cả thực hiện một thời kỳ phục hưng. Khi Tây Phương lại rơi vào đêm tối, suốt hai thế kỷ nữa, Giáo Hội không hề mất hy vọng, cuối cùng Giáo Hội đã thắng: đã chuẩn bị cho thời Trung Cổ Kitô giáo.
Giáo Hội đã làm tất cả vì mục đích siêu nhiên: cứu độ nhân loại với những phương tiện siêu nhiên, tin cậy vào lời Đức Kitô đã hứa với những con người siêu nhiên là các vị thánh: sáu trăm năm mọi rợ chứng minh tính Thánh Thiện của Giáo Hội. Năm 1050 là một khúc quanh lịch sử. Đối với Tây Phương, việc xâm nhập của người Mọi Rợ đã chấm dứt. Rợ phương Bắc, rợ Hungaria đã định cư, người Thổ và người Mông Cổ chỉ xuất hiện qua loa. Chế độ phong kiến bắt đầu phẩm trật hoá, trong khi vương quyền và thị dân xuất hiện. Người Mọi Rợ bớt hung dữ và văn hoá ra khỏi thời kỳ đen tối.
Giáo Hội định cư người Mọi Rợ, người Hungaria và Normanđia gia nhập cộng đồng văn minh, qua Bí Tích Rửa Tội Giáo Hội nhân đạo hoá thế giới phong kiến: lý tưởng đạo đức đã thắng, các giá trị trí tuệ nở rộ: Giáo Hội đã có đà bung ra. Lý tưởng hiệp sĩ đang hình thành, lòng đạo đức bén rễ, đức tin sống động, ý niệm về một “Thế giới Kitô giáo” đã nảy sinh.
Tại Đông Phương, Byzancia theo chế độ thần học chuyên chế, Kitô giáo Đông Phương phải đương đầu với hồi Giáo, cuối cùng đã trung hưng được Đế quốc, nhưng lại ly khai với Roma (1050).
I
THÁNH ÂU TINH: VỊ THÁNH CỦA THỜI ĐẠI MỚI
1. Ý thức của Phương Tây
Kitô Giáo đã không được như ngày nay, nếu không có thánh Au tinh (Augustinô), Giám Mục giáo phận Hippone, ở Bắc Phi thời cổ, nay là thị trấn Bône, thuộc nước Algéria. Các Kitô hữu, dù thuộc Giáo Hội nào, Công Giáo, Tin Lành hay Chính Thống, trong những điểm quan trọng về đức tin, đeu nói tới thế giá của Au Tinh. Họ coi người là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế giới Kitô Giáo, sau thánh Phao-lô.
Anh hưởng của Au Tinh không chỉ giới hạn trong lãnh vực tôn giáo, mà còn tới cả lối suy tư của người Au Châu, thời Trung Cổ nữa. Ngay từ thuở sinh thời, ông đã tiếng thăm lừng lẫy. Người ta coi ông là “ý thức của tây Phương”. Rồi, từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, ảnh hưởng của ông vẫn tồn tại và phát triển. Con số sau đây đủ chứng minh điều đó: tại các thư viện Au Châu, người ta đếm được khoảng không dưới 500 bản chép tay tác phẩm trứ danh Thành Trì Thiên Chúa của ông. Những bản cổ nhất có từ thế kỷ VI, nghĩa là khoảng trăm năm sau khi tác giả qua đời. Và sau khi phát minh ra kỹ thuật in, tác phẩm được ấn hành 24 lần, trong khoảng 27 năm, từ 1467 đến 1495.
2. Tuổi trẻ hư hỏng
Con người vừa là thiên tài, vừa là thánh ấy, chào đời ngày 13/11/354, tại Thagaste, một thành phố thương mại nhỏ, nay là thị trấn Souk Ahras, ở Algêria.
Thời đó, Thagaste, cũng như nhiều nơi khác ở Phi Châu, đang sống dưới ách thống trị của quân đội viễn la mã.
Thân phụ Au Tinh tên là Patriciô, tính khí bốc đồng và còn “ngoại giáo”. Trái lại, thân mẫu, bà Monica, là một kitô hữu rất mộ đạo.
Au Tinh lớn lên trong một môi trường dễ dãi. Hồi nhỏ, cậu mới ghi tên vào danh sách những người dự tòng chứ chưa rửa tội. Bởi vì thời bấy giờ người ta chưa có lệ rửa tội con nít. Đi học, cậu thường ăn đòn hơn là dược khen thưởng, như sau này cậu đã kể lại trong cuốn Tuyên Xưng (Confessions). Cậu không thích học, và nếu người ta không bắt buộc thì cậu chẳng học hành gì; lớn lên, cậu tìm hết mọi dịp để có thể bỏ học đi chơi;
Sau khi thân phụ qua đời, nhờ lòng quảng đại của một người bạn gia đình, sớm nhận thấy nơi cậu một trí thông minh xuất chúng, Au Tinh được tiếp tục theo học ở Carthagô, thủ đô Phi Châu thuộc La thời bấy giờ, gần Tunis, nước Tunisia ngày nay.
Vẫy vùng trong một môi trường hư hỏng, khắp nơi đầy những “mối tình nhơ nhuốc”, chàng sinh viên tỉnh lẻ, mới 17 tuổi, tính tình đam mê, bắt bồ ngay được một cô nhân tình! Kết quả là một đứa con ra đời! Au Tinh rất cưng đứa bé và đặt tên nó là Adeodatus, nghĩa là “Ơn Trời” hay “ Thiên An”.
Tuy nhiên, không vì vợ con mà Au Tinh bê trễ học hành. Chẳng bao lâu, chàng nổi tiếng về khoa hùng biện, một môn học thời xưa, dậy cách nói trước công chúng sao cho hấp dẫn và thuyết phục được thính giả. Nhờ đọc cuốn Hortensius, một tác phẩm của nhà hiền triết Cicêrô thời thượng cổ, bây giờ đã thất lạc, Au Tinh khám phá ra Triết Học. Và cuốn sách gây trong lòng chàng một ấn tượng sâu xa, đến nỗi chàng “hướng về Thiên Chúa trong sự cầu nguyện”. Nhưng Au Tinh vẫn coi Thánh Kinh là truyện đàn bà trẻ con! Thành thử, chính triết học, chứ không phải Thánh Kinh đã hướng lòng Au Tinh về Thượng Đế.
Oái oăm thay! Lần đầu tiên Au Tinh tiếp xúc với một tôn giáo thì lại gặp phải lạc giáo của Manés. Ông này là đệ tử một người Ba Tư, cho rằng thế giới chỉ là một bãi chiến trường, nơi đó, từ muôn đời, ánh sáng và bóng tối vẫn quyết liệt giao tranh. Thuyết “Nhị Nguyên” của Manés rất ảnh hưởng trong giới trí thức thời đó. Vì vậy, Au Tinh đã theo nó, suốt 9 năm, mặc dù học thuyết Manés không làm cho chàng hết băn khoăn thắc mắc.
Bà mẹ đạo đức của Au Tinh rất phục con, nhưng buồn lắm! Bà đến thăm vị giám mục sở tại và khẩn khoản yêu cầu đức cha giúp con bà trở về đường ngay nẻo chánh. Nhưng, giờ chưa tới, Đức Giám Mục trả lời: “Đứa con mà bà đã khóc mất bao nước mắt, không thể hư mất được!”. Cậu nói thật khôn ngoan, phấn khởi tâm hồn, nhưng bà Monica còn phải cầu nguyện và đau khổ nhiều nữa…
3. “Hãy cầm lấy mà đọc!”
Muốn thâm cứu nền văn hoá latinh, năm 383, Au Tinh, trốn mẹ, xuống tàu sang Lamã, rồi Milanô, và làm giáo sư, dạy khoa hùng biện tại đó. Bị mối băn khoăn thúc đẩy, lại thất vọng với học thuyết của Manés, Au Tinh đã thử hết, kể cả phù phép và chiêm tinh! Nhưng tâm hồn chàng vẫn không tìm thấy sự bình An.
Vả lại, bà Monica đâu có để con trốn dễ dàng như vậy! Biết con đã sang nước Ý, bà bèn theo bên gót, với một điều tâm niệm duy nhất là giúp con trở lại đạo.
Luôn tìm kiếm sự thật, Au Tinh đến nhà thờ, nghe thánh Ambrôsiô Giám Mục thời danh của giáo phận Milanô thời bấy giờ- người đã từng cấm Hoàng Đế giết người vào nhà thờ- giảng thuyết. Các bài giảng của vị Giám Mục Milanô làm cho cuộc chiến nội tâm của Au Tinh càng thêm quyết kiệt. Biết rằng đam mê xác thịt là tội lỗi, Au Tinh bối rối vô cùng. Chàng quyết định trả cô nhân tình về Phi Châu và đính hôn với một thiếu nữ duyên dáng hẳn hoi. Nhưng rồi chàng lại huỷ bỏ vụ đính hôn đó, chạy theo một người tình mới! Rồi vì không được “ẩn mình trong vòng tay một người đàn bà”, chàng cho đó là một điều quá bất hạnh, đáng sợ! Mặc dù, dưới mắt chàng, đi tìm thú vui xác thịt không thể nào sánh được với những thú vui đích thật của tâm hồn. Nhưng mỗi lần chàng cầu xin Thiên Chúa giúp mình sống trong sạch thì, tự đáy lòng, lại nổi lên một lời... bàn ra: “Nhưng không phải bây giờ…...”!
Càng nấn ná trong sự bê bối thì lương tâm càng cắn rứt! Cuối cùng, chàng phải lựa chọn: đam mê xác thịt hay phần rỗi linh hồn. Một ngày xuân năm 386, chàng ngồi trong vườn nhà, dưới một gốc cây, lòng buồn day dứt, bỗng nghe, phía bên kia tường, một tiếng hát trẻ con, lảm nhảm như kiểu con nít thường hát, rằng: “Tolle, lege, tolle, lege” nghĩa là: “Cầm lấy, mà đọc, cầm lấy, mà đọc”! Một điềm gì chăng? Au Tinh vào nhà, lấy cuốn Thánh Kinh, mở một trang đọc một câu bất chợt, và trúng ngay câu này: “Đừng chè chén say sưa, chớ chơi bời dâm đãng nhưng hãy mặc lấy Đức Giêsu Kitô” (Rm 13,13-14).
Bình an tràn ngập tâm hồn, đêm 24 rạng ngày 25 tháng tư, năm 387, Đêm Vọng Phục Sinh, Au Tinh lãnh nhận bí tích Rửa Tội, bởi tay Đức Giám Mục Ambrôsiô, cùng với con trai ông. Lúc đó Au Tinh 33 tuổi và Adeodatus 15. Cuộc chuyển hướng này, như cuộc chuyển hướng của thánh Phaolô trên đường Đa mát, là một biến cố lớn trong lịch sử Kitô giáo. Riêng với bà Monica thì đêm nay mới thật là đêm thánh vô cùng: Au tinh con bà và Adeodatus cháu nội bà đã được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, bà toại nguyện lắm rồi! Lời tiên tri của vị giám mục ngày trước đã bắt đầu thực hiện. Au Tinh mang ơn bà, cả Hội Thánh cũng mang ơn bà. Vì thế trong phụng vụ cũ, lễ thánh nữ Monica gắn liền với kỷ niệm Thánh Au Tinh chuyển hướng. Và ngày nay, trong phụng vụ canh tân, Giáo Hội lại đặt lễ nhớ bà mẹ hiền ấy vào ngày 27/8, ngay trước ngày lễ nhớ con bà.
Cuộc chuyển hướng vô cùng cam go trong tâm hồn Au Tinh, nếu ngày nay chúng ta biết được, tới tận các chi tiết, một cách rất chính xác, là nhờ chính Au Tinh đã thành thực viết lại trong cuốn sách bất hủ, nhan đề Tuyên Xưng, tác phẩm thuộc về kho tàng châu báu nhất của nền văn minh Tây Phương ấy được viết vào khoảng năm 397-398. Lúc đó Au Tinh đã hơn 40 tuổi, đã là linh mục và giám mục. Tuyên Xưng là những lời viết cho vinh danh Thiên Chúa. Au Tinh đã viết tác phẩm này như là viết cho Thiên Chúa. Nếu tác giả nói tới cái tôi, tới tội lỗi, tới những khốn cùng nội tâm của mình, thì chỉ để chứng tỏ quyền năng vô cùng của Thiên Chúa và Ơn Người. Cả tác phẩm chỉ là một tiếng lòng yêu mến và ngợi khen mà thôi...
4. “Au Tinh, Linh Mục!”
Ít lâu sau ngày Rửa Tội, Au Tinh trở về Bắc Phi, quyết định sống một đời cầu nguyện và học hành. Những khuôn mặt bạn bè, những buổi chuyện trò xây dựng, từ đây là niềm vui duy nhất của ông. Từ ngày trở về Thagaste, vào mùa thu 388, ông chia nhà sẻ cửa với mấy tín hữu khác, cùng một chí hướng chê bỏ thế gian như ông. Họ cùng nhau tuân theo một kỷ luật, sống thanh bần, làm việc tay chân và bỏ ra nhiều giờ để bàn về các vấn đề đức tin.
Kỷ luật của cộng đồng huynh đệ bé nhỏ này, về sau, được áp dụng cho các dòng tu, gọi là Luật Thánh Au Tinh. Chẳng những là dòng Au Tinh giữ luật đó, mà cả những dòng tu lớn khác, như dòng Đa Minh1, cũng theo, trong những nét chính, luật này nữa.
Người tân tòng ấy chăng bao lâu đã tỏ ra là một chuyên viên chú giải Thánh Kinh có tài. Tiếng tăm ông nổi như cồn khắp miền Bắc Phi. Nhiều người ở xa tìm đến hỏi ý kiến ông. Sự khôn ngoan thông thái của ông, cộng thêm sự thánh thiện, làm cho người đối thoại nhớ mãi. Đó đây, người ta mời ông giải quyết các vấn đề tôn giáo nhưng ông cẩn thận tránh né những địa phương thiếu linh mục: ông không muốn bị lôi kéo vào hàng giáo sĩ.
Năm 391, một ngày kia, trong khi lưu trú tại Hippone, thành phố miền biển ông tới tham dự buổi lễ ở nhà thờ chánh toà, không hay biết gì về ý định của vị giám mục sở tại, Đức Cha Valêrô, lúc đó đã già, đang tìm kiếm một linh mục phụ tá. Thế là, có mật hiệu thế nào không biết, đám đông hô lớn: “Au Tinh, linh mục! Au Tinh, linh mục!” và nhào tới kiệu ông đến dưới chân Đức Giám Mục, mặc dù ông vừa khóc, vừa phản đối. Đức Giám Mục truyền chức cho ông tại chỗ. Thời xưa dân chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc tuyển chọn linh mục và cả giám mục nữa. Trường hợp thánh Ambrôsiô được chọn làm giám mục Milanô cũng tương tự như vậy.
Thế rồi, 5 năm sau, vị giám mục già nua ấy qua đời. Au Tinh lên kế vị. Trong suốt 35 năm, từ năm 396 tới năm 430, năm người qua đời, con người thích nhất là” hoàn toàn thoát ly khỏi cõi đời ồn ào thay đổi” ấy là phải đóng vai trò chủ chăn, trong một hoàn cảnh vừa bấp bênh, vừa ồn ào của một hải cảng Địa Trung Hải. Cộng đồng Kitô hữu Hippone, con chiên của Đức Cha Au Tinh, chia rẽ nhau trầm trọng! Hết nhóm này ly khai, tới phe khác ra riêng! Tình trạng ấy không phải là trường hợp đặc biệt: các thánh khác ở Bắc Phi và Au Châu đều gặp khó khăn như thế cả! Vì, lúc đó, Hoàng Đế Thêôđôsô mới lấy Kitô giáo làm Quốc Giáo, “đạo ta đang lên”, nên “các đấng các bậc” chia rẽ nhau bằng thích! Au Tinh trước kia đã từng theo lạc giáo của Manés, nên ý thức ngay rằng: nhiệm vụ giám mục đầu tiên của người là bảo vệ sự hiệp nhất trong Giáo Hội.
Hằng ngày, có khi ngày hai lần, Đức Giám mục Au Tinh giảng dạy. Người triển khai những đề tài cốt lõi trong Thánh Kinh, nhất là Tân Ước. Khoảng 450 bài giảng của người, còn tồn tại tới thời đại chúng ta, chứng tỏ Au Tinh là một trong những nhà giảng thuyết nổi danh nhất từ xưa tới nay. Ngoài việc giảng thuyết, còn rất nhiều thư từ, tiểu luận, tác phẩm... xuất phát từ ngòi bút của vị giám mục giáo phận Hippone ấy. Trong số hàng ngàn thư của người, hiện nay người ta còn giữ được 260 bức. Các sách được người, viết bằng tiếng La tinh rất sinh động, đếm được 232 cuốn chia làm 93 tác phẩm và ngày nay in in thành 16 pho lớn, chữ nhỏ. Để hoàn thành những công trình đó, Au Tinh đã dùng tới các thư ký. Người đi đi lại lại trong phòng làm việc, đọc cho họ viết. Người có một vốn văn rất uyên thâm, hiểu sâu xa, cặn kẽ tư tưởng cổ nhân, nhất là Platon. Người đã khai thác những tư tưởng nay để đặt cho giáo lý Kitô sơ khai một nền móng triết học vững chắc. Thời đó còn vô số vấn đề, liên quan đến đức tin, chưa được định nghĩa. Au Tinh là một trong những người đầu tiên đã soi sáng các vấn đề hóc búa, như vấn đề Chúa Ba Ngôi chẳng hạn, cho mọi tín hữu đều có thể hiểu được ít nhiều.
5. Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh.
Thế là Âu Tinh trở thành đấng bảo vệ Đức Tin. Khi thì nhấn vào điểm này, khi thì nhấn vào điểm khác, tuỳ nhu cầu hoàn cảnh đòi hỏi, người đã từ từ xây dựng nên nền thần học. Chẳng hạn khi Pêlagiô, một tu sĩ người Anh xướng ra học thuyết cho rằng: Ơn Chúa không phải là điều tối cần thiết để được cứu độ. Loài người có thể tự cứu bằng ý chí riêng của mình. Đáp lễ Pêlagiô lạc giáo, Âu Tinh trưng ra thuyết Tiền Định. Theo người, vì tội Nguyên Tổ, loài người đã hư hỏng hết, không thể được cứu độ, nếu không có Ân Sủng của Thiên Chúa. Mà Ân Sủng là một ơn ban không: không phải tại người ta có công nghiệp gì mà được Thiên Chúa ban ơn cứu độ cả. Âu Tinh còn quả quyết rằng: chỉ có Chúa biết ai trong chúng ta sẽ được tuyển chọn. Bởi vì chính Thiên Chúa, từ muôn thuở và ngoài thời gian, quyết định vận mạng chúng ta.
Tư tưởng này, đến thế kỷ XVI, đã trở thành một trong những tư tưởng căn bản của đạo Tin Lành. Ông Luthêrô vốn là một tu sĩ dòng Âu Tinh, đã thiết lập các luận án phần lớn căn cứ vào học thuyết Âu Tinh. Dưới ánh sáng hắt hưu của những ngọn đèn cầy, Luthêrô đã nghiền ngẫm, nhiều đêm dài các tác phẩm của vị Giám Mục thành Hippone, mệnh danh “Tiến Sĩ An Sủng” này.
Năm 410 rợ Tây-Gốt của Alaric tổng công kích thành Rôma. Biến cố này gây kinh hoàng khắp Đế Quốc. Nhiều người ngoại giáo bây giờ cho rằng: biến cố đã không xẩy đến, nếu Roma vẫn trung thành với các thần linh xưa. Chúa Kitô, theo họ, rõ ràng không đủ khả năng bảo vệ Rôma! Nhưng người ngoại giáo rất tôn trọng Âu Tinh, họ cho người là nhà hiền triết lỗi lạc của thời đại. Lời người, đối với họ, còn nặng kí lắm! Vì thế, cuối năm 412, mặc dù đã 59 tuổi, Âu Tinh đã bắt tay vào việc viết tác phẩm Thành Trì Thiên Chúa. Suốt 13 năm mới xong! Sách này đã trở nên lý thuyết xây dựng xã hội Tây Phương ngót 1000 năm. Tắc giả mô tả nhân loại như bị chia đôi, thành hai cộng đồng, hai “thành trì” đối nghịch, nhưng luôn sống chung với nhau! “Thành Trì Trên Trời" gồm những người yêu Chúa đến nỗi bỏ mình. Trái lai, “thành trì trần thế" gồm những kẻ yêu mình đến nỗi bỏ Chúa. Hai lực lượng này đụng độ nhau là diều không thể tránh được. Và những hỗn loạn lịch sử chỉ là phản ảnh cuộc tranh chấp ấy mà thôi.
Khi quân Vandales xâm chiếm Phi châu thuộc La, Đức Giám Mục Âu Tinh đã 76 tuổi. Địch quân bao vây thành Hippone, giáo phận của nguời. Người từ chối không chịu đi di tản. Người ở lại giữa đoàn chiên và trở thành linh hồn của thành phố bị vây hãm. Vị giám mục già vẫn không ngừng rao giảng, khuyến khích tín hữu tin cậy vào Chúa. Hippone bị vây tới tháng thứ ba thì Đức Cha lâm trọng bệnh. Người bảo người ta đóng lên tường, bên giường bệnh, các bản thánh vịnh sám hối của vua Đa-vít: người muốn cầu nguyện và sám hối trong những ngày cuối cùng còn lại. Người không làm chúc thư, vì người không có của cải, vàng bạc gì cả...
Tác giả hàng trăm cuốn sách, hàng ngàn bức thư, tiểu luận và bài giảng ấy chỉ yêu cầu" những người anh em trong Chúa" bảo vệ nguyên vẹn bản thảo các tác phẩm của mình.
Một khuân mặt lớn của nhân loại đi qua. Hôm ấy là ngày 28/8/430. Hai thế kỷ sau, tại Phi Châu, Giáo Hội Công Giáo bị làn sóng chinh phục Ả rập quét sạch. Nhưng hai thế kỷ đã đủ để khắp Tây Phương chấp nhận di sản tinh thần của Âu Tinh. Và nhờ sự thông minh phi thường của một thiên tài Phi Châu, Kitô giáo đã đủ tầm cỡ để chinh phục tư tưởng Tây Phương. Âu Tinh xứng đáng với tước hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh, Tiến Sĩ Tình Yêu, Tiến Sĩ Ân Sủng, mà Giáo Hội đã tặng cho người. Cùng với thánh Ambroriô, thánh Giêrônimô và thánh Grêgôriô Cả, thánh Âu Tinh là một trong bốn Đại Tiến Sĩ Tây Phương, “Tứ Trụ” của Giáo Hội Rôma.
Người ta biết rằng, về phương diện thể chất, vị đại tiến sĩ này có một thể chất rất mong manh. Đến nỗi trở ngại đầu tiên mà người phải vượt qua chính là thân xác của người! Dù không đến nỗi liệt giường và, tới tuổi già, giác quan vẫn còn minh mẫn, Âu Tinh là một bệnh nhân ho, suyễn và mất ngủ kinh niên. Một thể xác ốm yếu chứa đựng, một tinh thần mạnh mẽ, như bình cũ đựng rượu mới, có lẽ đã là một phép lạ vĩ đại. Vì thế, trong cuộc đời vị đại thánh, hình như không có chỗ cho phép lạ nào khác nữa. Possidius, viết tiểu sử Âu Tinh, kể rằng người có cứu sống mấy người bị quỷ ám và chữa một em bé khỏi bệnh một cách kỳ diệu. Nhưng, về sau các nhà viết truyện thánh không mấy chú ý tới các phép lạ đó. Sự kiện độc đáo này cho chúng ta thấy: người ta có thể làm thánh mà sinh thời không làm phép lạ!
Tiếc rằng chúng ta không có được một hình ảnh nào của người, cũng như chúng ta không có hình Chúa Giêsu hay thánh Phaolô. Tuy nhiên, năm 1900, người ta tìm thấy dưới nền nhà nguyện Sancta Santorum ở Rôma (phần duy nhất còn lại của đền Latêranô xưa nhất) một hoạ phẩm, thực hiện khoảng thế kỷ V hoặc VI, trình bầy một ông già, mặc áo thụng dài, tóc thưa, râu ngắn và hoa râm, bé nhỏ, tay trái cầm một cuộn sách có vẻ suy tư, đang ngồi trước một giá sách. Dưới bức hình người ta đọc thấy hai câu thơ La tinh, đại ý: “Nhiều vị giáo phụ dạy nhiều điều khác nhau, vị này dạy tất cả. Và nhờ tài hùng biện đặc biệt Rôma của người, ý nghĩa thần bí đã vang dội”. Người ta nghĩ rằng chỉ có Âu Tinh mới xứng đáng với lời ca tụng đó.
II
GIÔNG TỐ MỌI RỢ VÀ NHỮNG ĐẬP CẢN CỦA GIÁO HỘI
1. Mọi Rợ
Cuộc đại xân nhập của quân mọi rợ vào Đế Quốc xảy ra vào đêm 31/12/406 tại miền Bắc xứ Gaule. Thật ra việc quân mọi rợ xâm nhập Đế Quốc có cội rễ xa xôi và triển khai đa dạng. Việc họ vượt sông Rhin kia chẳng qua là một đợt trong nhiều đợt mà thôi.
Từ lâu lắm rồi thế giới Lamã đã có vấn đề đối với khối người đáng sợ, mà họ chỉ định bằng từ “quân mọi rợ”, từ này do người Hylạp dạy họ, từ này có ngụ ý khinh bỉ, sự khinh bỉ của nền văn minh Tây Phương và Quốc Gia, đối với nền văn minh Bộ Lạc. Khoảng 100 năm trước công nguyên Marius đã ngăn chặn rợ Teutons ở Aix-en-Provence (năm -102), rợ Cimbres ở Verceil (-101). Cêsar (-57), hành quân xứ Gaule để cản rợ Suêve, người chủ trương tấn công quân mọi rợ ngay hang ổ của nó! Augustô cũng noi gương cậu người. Nhưng sau thất bại của Varus (năm 9 sau công nguyên), chính sách Lamã chuyển sang tự vệ, các Hoàng Đế Tibêriô và Hađrianô bỏ việc chiếm xứ Nhật Nhĩ Man, Trung Au, Calêđônia, Ai Nhĩ Lan. Từ đây Roma trông vào trường thành và các binh đoàn đồn trú ở biên giới, để cản đường tấn công của quân mọi rợ. Vào thế kỷ III, tình hình thay đổi, trong cái hỗn độn của quân mọi rợ, hình thành nhiều tập thể Binh Đội: Franc, Vandale, Alaman, Gốt, Saxon, đe doạ Đế Quốc thường trực. Thế kỷ III cũng như IV không một Hoàng Đế nào không phải chống quân mọi rợ. Năm 258, rợ Alaman và Franc tràn ngập xứ Gaule, Bắc Ý, Tây Ban Nha. Năm 378 rợ Gốt giết Hoàng Đế Valensô. Tuy nhiên, nói chung, vào lúc Hoàng Đế Thêôđôsô Cả qua đời (395), dưới mắt người Lamã trung bình, nguy cơ mọi rợ không có vẻ đáng sợ lắm. Và rồi quân mọi rợ rất nhanh nhẩu tình nguyện đi làm đi làm nghĩa vụ quân sự dưới cờ Lamã!
Đó là sự kiện quan trọng nhất, nhưng người ta quá quen thuộc, nên không để ý! Từ 3 thế kỷ nay, trước còn từ từ, sau này càng nhanh, quân mọi rợ xâm nhập vào Đế Quốc. Bắt đầu, người ta chấp nhận cho quân mọi rợ đăng ký cá nhân vào Binh Đội, đúng hơn là vào những đơn vị trợ tá, hoặc hợp đồng lao động, canh tác. Rồi người ta tuyển mộ đủ mọi giống dân, cả từng đơn vị: Nhật Nhĩ Man, Bêđouin, Osrhoène, đến cả mọi đen nữa, để làm dịch vụ quân sự và công việc đồng áng, thay cho người Lamã lười biếng suy thoái. Việc chỉ huy cao cấp lúc đầu trao cho người Lamã, dần dần sang tay quân mọi rợ, được tô điểm các chức vụ la tinh! Thế là, cả từng bộ lạc, dưới quyền các tù trưởng của họ, vẫn giữ nguyên phong tục, ngôn ngữ, phương pháp chiến đấu, đóng dọc biên giới, thay thế các Binh Đội và nông dân Lamã. Và, trong các trận nội chiến, rất thường xảy ra trong 3 thế kỷ này, người ta thường thấy 2 phe đối nghịch kêu gọi tới binh đội mọi rợ, để chiếm hoặc giữ chính quyền. Thí dụ: năm 394, Thêôđôsô đánh Arbogastô, phe Hoàng Đế có rợ Gốt, Alain, Ibères, Huns (rợ Hồ), trong số tướng lãnh của ông, có tướng Vandale Stilicon, người sau này sẽ bảo vệ Đế Quốc và tướng Gốt Alaric, người 15 năm sau sẽ chiếm Roma. Phe Arbôgastô thì có rợ Franc và Alaman.
Thế giới Lamã thế là bị mọi rợ hoá. Đoán trước một cách mơ hồ mối nguy, vài Hoàng Đế, như Valentinianô và Valensô, năm 375, đã cấm người Lamã kết hôn với quân mọi rợ, nhưng hôn nhân hỗn hộ loại này vẫn lệnh khênh, ngay cả trong triều đình! Nói cho ngay quân mọi rợ có sức hít! Hônôria, con gái đế hậu Galla Placidia, gửi nhẫn và thư tình cho Attila, đề nghị lấy y! hơn nữa, quy luật lịch sử muốn rằng: kẻ nào có quyền bính trong tay, trước sau gì thì cũng sẽ cầm quyền. Tất cả các vai chủ động trong chính trị, từ cuối thế kỷ IV, đều là quân mọi rợ, Lamã hoá nhiều ít, không cần dấu diếm nguồn gốc lý lịch: Stilicon người trách nhiệm về Đế Quốc sau khi thêôđôsô chết là rợ Vandele, Aetius, người sẽ thắng Attilia, là mọi rợ lai (cha Nhật Nhĩ Man, mẹ Latinh), mọi rợ mang tên Latinh, như tướng Victoriô, có khi chẳng cần che đậy, vẫn giữ nguyên tên mọi rợ, như Mêrôbaude… Phần lớn họ trung thành với Roma, như Stilicon và Aetius, nhưng cũng có khi giữa một ông tướng phục vụ Hoàng Đế và tên phản loạn có ý đồ tịch thu toàn bộ Đế Quốc chỉ có một vật cản mong manh, như trường hợp Alaric.
Bên kia biên giới, khối quân xâm lược đang chờ đợi vẫn không ngừng gia tăng, nơi dự chữ chiễn sĩ tốt. Các bộ lạc mới thêm vào các bộ lạc cũ. Từ những cuộc cách mạng thế kỷ III, quân mọi rợ được tập họp tốt hơn. Phần lớn họ là người Nhật Nhĩ Man, to lớn, khoẻ mạnh, có tổ chức kỷ luật, rất vâng phục lãnh tụ. Khoảng năm 400, quân mọi rợ gồm có người: Franc, Saxon, Lombardô, Burgonde, Alaman, Vanlade, Gốt, chia 2 nhóm Đông Gốt (Ostrogoths) và Tây Gốt (Wisigoths), Angle, Jute (nay là Đan Mạch), Skire ở Galicia, Na Uy, Gètes và Thuỵ Điển ở Bắc Au; Slave, Wende, Quade, Gepides, Alain ở Nga. Xa nữa là rợ Huns.
Bỏ rợ Huns ra, vì là trường hợp đặc biệt, thế giới mọi rợ, vào lúc bắt đầu thảm kịch thế kỷ V, có sự khác biệt giữa các nhân tố. Về thể chất chẳng hạn, Saxon “mắt xanh, tóc cao nhẵn phía trên trán, cho mặt được dài ngoẵng ra”, rợ Herule “má xanh như rong biển”, rợ Burgonde khổng lồ cao 7 trượng.
Về đạo lý, tâm lý: rợ Burgonde vui vẻ không ác, Alaman hung hãn, thích cướp bóc; Alai nổi tiếng độc ác, ngang với Vandale. Nói chung “quân mọi rợ”, nói cho ngay, cũng không mọi rợ lắm! Các nhà văn Kitô giáo, như Salviatiô, nhìn nhận nơi họ có nhiều đức tính, như trung thành, kỷ luật, trong sạch và lương thiện (giữa họ với nhau), họ có một quá khứ văn minh. Nhiều người trong họ đã chịu ảnh hưởng văn minh La-Hy nhiều ít cách này cách khác, có người hoàn toàn thấm nhiễm. Sự kiện này rất cần ghi nhớ.
Thế kỷ II, Vương Quốc Marcomans đã Lamã hoá.
Rợ Franc ở xứ Bỉ, Gốt ở Hạ Danube đã quan hệ nhiều mặt (ngoại giao, buôn bán), với xã hội La-Hy.
Rợ Jute lấy Hylạp làm mẫu mực trang trí.
Rợ Scandinavia (Bấc Au) đã dùng tiền tệ và đồ dùng Lamã.
Rợ Gốt biến đổi tôn giáo, chứng tỏ tiếp xúc nhiểu ảnh hưởng.
Mặt khác, Roma có thói giữ làm con tin các hoàng tử trẻ, để đảm bảo việc thi hành các hoà ước đã ký kết với dân tộc của họ. Do đó, giai cấp mọi rợ ưu tú này biết Đế Quốc với nền văn minh, phong tục tập quán và cả những mặt yếu của nó nữa. Alaric, Thêôđôric, Attila đều đã từng là con tin. Những lãnh tụ mọi rợ biết nói tiếng Latinh có khi cả Hylạp, biết thưởng thức cái đẹp của đời sống văn minh. Alaric, vua Tây Gốt, khi chiếm Hylạp chỉ đòi được quyền ngự du một ngày tại thành đô kỳ diệu, chào tượng Phidias ở Parthênon, xem kịch “Người Ba tư” ở rạp hát… Nhưng khi hắn tiến công Roma, năm 410, hắn trở lại trung thành với truyền thống tổ tiên, vứt bỏ quân hàm Đế Quốc, mặc áo da sơn đỏ của kỵ mã Gốt và đội nón bằng đồng có 2 sừng…
Người Lamã văn minh suy thoái mê sự thô bạo lành mạnh của quân mọi rợ, quân mọi rợ thì lại mê sự huy hoàng của Roma, ngay cả khi chúng ghét nó! Sự suy thoái của người văn minh và sự thô bạo của quân mọi rợ bổ sung va hấp dẫn nhau! Cả thế giới Tây Phương lúc đó đều ở trong tình trạng mọi rợ và sẽ còn như thế 600 năm nữa, thời gian cần thiết để nẩy sinh một nền văn minh–văn minh Trung Cổ Kitô giáo–Các bộ lạc Nhật Nhĩ Man khi chúng bung ra trong suốt thế kỷ V, chúng chỉ là công cụ lịch sử dùng để thực hiện sự thay đổi.
2. Các giai đoạn xâm nhập lớn
Chúng ta đừng nghĩ cuộc đại xâm nhập là một cuộc tổng tiến công khổng lồ, toàn bộ mọi rợ chống văn minh. Có thể có sự hiệp đồng giữa một số dân tộc Nhật Nhĩ Man, trong khi hành quân, nhưng không bao giờ có kế hoạch chung, cũng như sự nhất trí, hay ý thức về cộng đồng chủng tộc và quyền lợi cả. Ngay tới cái từ “Nhật Nhĩ Man” bản thân họ cũng không biết, từ này do người xứ Gaule đặt ra và chỉ có nghĩa là “hàng xóm”! Mỗi màn đều có lý do riêng, nhưng toàn bộ hiện tượng đều có nguyên nhân sâu xa và quyết định.
Nguồn gốc cụ thể của việc xâm nhập, vào đầu thế kỷ V của các bộ lạc vào Đế Quốc nằm trong chính những điều kiên sống của quân mọi rợ, trong sự phân tán, sự kích động thường trực của họ. Từ giữa thế kỷ IV, miền Nam nước Nga và vùng sông Danube là trung tâm bão tố. Làn sóng Nhật Nhĩ Man từ Baltique xuống phía Nam đụng phải làn sóng Hung Nô (Hiong Nou), tức rợ Hồ (Huns) tức quân Mông Cổ (Mongolia), bị các hoàng đế nhà Hán bên Tàu đuổi, hướng sang Phương Tây. Lần lượt các quân Sarmate, Alainrồi Đông Gốt bị họ đập tan. Cuộc đại xâm nhập thế kỷ V, chính là phản ứng chống Mông Cổ của thế giới Nhật Nhĩ Man vậy.
Yêu cầu bỏ xứ đang bị đe doạ, chạy trốn trước một nguy cơ kinh khủng; sức hít của những xứ ấm mặt trời và giàu có; ước mong bắt chước những người đồng chủng đã định cư trước, thành quần thể, hoặc liên bang, quanh Đế Quốc; đam mê chiến tranh và chinh phục… là những lý do của cuộc tiến công vũ bão của người mọi rợ.
Về phía Đế Quốc: những âm mưu triều đình dẫn tới phản bội, như tể tướng Rufinô tung quân Tây Gốt vào Ý, hoặc công tước Bonifaciô mở cửa Phi Châu cho rợ Vandale của Gensêricô… Những cuộc tranh chấp giữa các tướng Lamã gốc Mọi Rợ; sự đồng loã của các bộ lạc đã định cư; sự đồng mưu của ngay cả một số dân văn minh… Như một thân thể mòn mỏi vì tuổi già kêu gọi tật bệnh, Đế Quốc năm 400 kêu gọi quân mọi rợ!
Và chúng liền đến ngay! Không phải như trước kia người ta vẫn thường thấy, chỉ là những binh sĩ, đoàn ngũ nhiều ít, mà là cả từng bộ lạc, với đàn bà, trẻ con, súc vật, đồ đạc. Từ “xâm nhập”, “xâm lăng” (Invasion) làm ta nghĩ tới việc binh đội tràn vào một miền nào đó, nhưng, thực ra, đây là cả một cuộc “di dân”.
Thảm kịch bắt đầu đêm 31/12/406. từ từ, quân mọi rợ tiến vào xứ Gaule, rồi xuống Tây Ban Nha. Năm 411 chúng định cư ở đó, nào là Vandale, Suève và Alain. Từ đây mọi người đã hiểu ra. Thánh Âu Tinh viết cho một trong những bà bạn của người ở Ý rằng: “Thư trước của bà không cho tôi được biết điều gì về những gì xảy ra ở Roma, trong khi tôi rất muốn biết, trong những tin đồn hỗn độn đến tai tôi, về việc Thành đang bị đe doạ, có điều gì thật không? Tôi không muốn tin…”. Điều thánh Âu Tinh lo sợ, hai năm sau đã thành hiện thực. Roma bị Alaric chiếm, cướp phá, ngày 24/8/410. tuy nhiên đây thực ra cũng chỉ là vấn đề chính trị nội bộ của Đế Quốc. Alaric, vua Tây Gốt, vĩ nhân nửa mùa, nhưng là nhà ngoại giao có tài. Hắn lợi dụng các âm mưu trong triều, nhất là sự hận thù qua lại giữa hai bộ trưởng Rufinô và Stilicon để chiếm xứ Illyria. Hắn kéo đám binh đội nổi loạn về Ý hai lần đều thất bại. Nhưng chính quyền sợ, phải bỏ Roma lấy Ravenna làm thủ đô (404). Lần thứ ba, vào tháng 8 năm 410, Alaric long trọng vứt bỏ tất cả những gì đã biến hắn thành một ông tướng Lamã, Alaric tiến công vào Thành, vây hãm, trong khi mưa bão kinh khủng, rồi hạ Thành. Bốn ngày liền, chúng cướp của, giết người, hãm hiếp, trong bầu khí kinh hoàng. Nhưng chiến thắng vô ích, vì bị nạn đói xua đuổi, tên rợ Gốt này sắp phải chạy sang vựa lúa Phi Châu thì chết. Em vợ hắn là Athaiilf, khôn hơn, dẫn dân của hắn về xứ Gaule, hoà giải với Roma và được phép định cư tại Aquitania như là một bang (416).
Mặc dù cuối cùng thất bại, cuộc tiến công của Alaric vẫn gây tiếng vang ầm ĩ, nó báo cho thế giới và quân mọi rợ biết sự yếu đuối của Đế Quốc và từ đây quân mọi rợ sẽ thừa thắng xông lên, hết đợt này tới đợt khác. Rợ Franc-vốn là một bang của Đế Quốc-tiến sâu vào xứ Gaule (430). Rợ Burgonde chiếm vùng Savoie hiện nay, Thuỵ Sĩ và xứ Bourgonia-tên của chúng-ở miền Đông Pháp hiện nay. Rợ Vandale của Gensêric bị rợ Tây Gốt, phục vụ Roma, tấn công, lợi dụng sự do dự của công tước Bônifaciô, xâm nhập Phi Châu (429), thành Hippone thất thủ, thánh Âu Tinh qua đời (430). Rợ Angle và Jute xâm nhập đảo Britannia (Anh) dân Breton trên đảo phải trốn vào núi, hoặc sang lục địa, tạo thành miền Bretagne của nước Pháp (442).
Nói cho ngay, không phải quân mọi rợ luôn luôn đến đâu tay cũng cầm bùi nhùi và gươm vấy máu! Thực tế phức tạp vô cùng. Cuộc tiến công của quân Burgonde ít hung hãn, quân Franc không ác. Nhưng rợ Angle, người Anh sau này-tàn phá nhiều, quân Vandale ở Phi Châu nhắm huỷ diệt chính nền Lamã chế (Romanité) nữa-Dĩ nhiên, quân mọi rợ tới đâu đều có cướp phá (dân số Ý giảm là do Alaric) ngoài ra, chúng còn có thói đi đến đâu là đốt tới đó nữa! Gian ác nhất là quân Vandale ở Phi Châu, thánh Âu Tinh tả rằng: trẻ con bị chặt đôi, trinh nữ bị tra tấn bằng sắt nung đỏ vào vú, quý tộc bị dùi vào cằm! Sự đau khổ các xứ bị xâm chiếm phải chịu là hậu quả của chiến tranh. Tuy nhiên vẫn có những nố trừ: Alaric truyền tôn trọng các nhà thờ ở Roma, Athaiilf người yêu của người đẹp bị tù Galla Placidia, con gái của Đế Hậu, đã không muốn cưỡng bức, mà nhẫn nại đợi nàng lấy mình trong sự tự do. Ngay Alaric cũng tỏ ra tôn trọng các giám mục. Về sau người hay gán cho quân mọi rợ là tác giả nhiều cảnh điêu tàn, không phải, do chúng gây nên, như Cổ Thành Toulouse đổ nát là do quân Vandale phá, thực ra không phải, đó là do sông Garonne gây ra. Theo quan niệm thông thường “Mọi Rợ” đồng nghĩa với “bán khai độc ác”, thực tế không đơn giản như vậy!
3. “Thế Giới Đầu Bạc” 1
Tại sao chỉ có ¾ thế kỷ mà cả Tây Phương lọt vào tay quân mọi rợ ? Tại vì Đế Quốc đã già cỗi, sức mạnh chỉ còn ở cái vẻ ngoài mà thôi!
Ngày 19/1/395, Thêôđôsô, vị Hoàng đế vĩ đại cuối cùng qua đời, trong cung điện của ông ở Milanô. Lúc đó, người ta có thể tiên đoán rằng giờ của âm mưu, cách mạng cung đình, nội chiến lại sắp điểm. Chung quanh long sàng ngà và gỗ quí, nơi Hoàng đế hấp hối, có mặt đủ các quan, các chức sắc, các tướng lãnh mọi rợ, bận nhung phục Lamã, sẵn sàng dành nhau chính quyền! Một năm trước đó, Thêôđôsô đã chia Đế Quốc cho hai con:
-Arcađiô cai trị Đông Phương, cạnh cậu có Rufinô.
-Hônôriô cai trị Tây Phương, cạnh chú bé 11 tuổi này là Scilicon, người Vandale. Hai vị này đều ghét nhau! Và Thêôđôsô vừa “nằm xuống” thì rối loạn liền nổ ra không bao giờ ngừng lại nữa!
Những thập niên cuối cùng của Đế Quốc Tây Lamã thật kỳ lạ và bi thảm: không còn biết ai chỉ huy, ai vâng phục, ai làm phản, ai trung thành nữa!
Phe Hoàng đế và phe của một lãnh tụ mọi rợ xâm nhập, hoặc phản loạn, chống nhau. Đế Quốc Đông Phương chống Đế Quốc Tây Phương, hai bên đều dùng quân mọi rợ! Thời kỳ này xuất hiện những nhân vật kỳ lạ, không giống ai, như: Stilicon, bộ trưởng Vandale, phục vụ Đế Quốc, thắng Radagaise (một lãnh tụ Gốt tạo phản) năm 406, nhưng lại quan hệ với Alaric và có ý đồ chuẩn bị ngai vàng cho con. Và khi Hônôriô, rể của ông, ra lệnh giết ông vào năm 408, ông không tự vệ mà lại chìa cổ cho lý hình!
-Constanciô lãnh tụ người Illyricum, năm 407, đã chận bước tiến của rợ Vandale và Sueves ở xứ Gaule, trong khi bản thân ông là một kẻ phản loạn, đầu bị chính quyền treo giá, về sau lấy Galla Placidia, em Hoàng đế, tự phong Augustô và sống tại Arles, một cách rất hợp pháp, cuộc đời của một Phó Đế xứ Gaule.
-Galla Placidia, lăng tẩm còn tại Ravenna với những bức khảm tuyệt đẹp. Công chúa hoàng gia, tù nhân rợ Gốt, vợ Athaiilf, nữ hoàng mọi rợ xứ Tây Ban Nha, goá chồng, trở về Ý, tái giá lấy Constanciô, nhiếp chính, sau khi Hônôriô chết (423) và đưa con là Valentinianô III (423–455), mới hai tuổi lên ngôi.
Thời kỳ này là một thời kỳ suy thoái với những vị chúa tể thế giới bệnh hoạn, sống cuộc đời bí mật, vừa mộ đạo, vừa xa hoa, giữa các thái giám, đình thần, bảo vệ, người Nhật Nhĩ Man, tại thủ đô Ravenna, xa những đầm lầy sốt rét, những bộ trưởng, những cán bộ cao cấp nắm chính quyền nhưng vẫn cốt cách cựu nô lệ, cựu bồi bếp, hoặc mọi rợ đánh verni Lamã! Đó là những chủ nhân ông của thế giới!
Tất cả những nguyên nhân tàn lụi, được nhận thấy trong thế kỷ IV, đã dẫn tới hậu quả trọn vẹn trong thế kỷ V. chính sách Nhà Nước trị thời Điôclêtianô được Constantinô biến thành quân chủ thần quyền, bóp nghẹt tất cả đời sống Đế Quốc. Trên nguyên tắc tất cả phải tuỳ thuộc nhà nước, lao động cho nhà nước. Thực tế chế độ này chỉ bén rễ ở Đông Phương dựa vào các truyền thống độc tài xưa, còn ở Tây Phương thì thất bại. Việc củng cố quyền hành của nhà nước chỉ làm lợi cho các cán bộ hành chánh cao cấp, các tỉnh trưởng, các công tước… Nhà nước độc tài trở nên chịu hết nổi, khi nó không có khả năng giữ gìn trật tự an ninh: sự đe doạ của quân mọi rợ chưa bao giờ nặng nề đến thế, chiến tranh giữa các đối thủ tàn phá các tỉnh, từng đoàn cướp vô tổ chức phá phách nông thôn, và nhiều ô dù bao che cho chúng, nên không giải quyết được gì!
Công nhân viên qúa nhiều, nhiều hơn cả số người đóng thuế để trả tiền lương cho họ! Khủng hoảng tài chính kinh niên, tiền tệ mất giá, lạm phát, thuế khoá nặng nề, dẫn tới việc trốn thuế phổ biến, vật giá leo thang mà các nghị quyết ấn định giá cả (lần đầu tiên vào năm 301) không sao hãm lại được, khủng hoảng sản xuất do tay nghề giảm đi và sự trao đổi hàng hoá cũng giảm đi, do vô tổ chức, bất mãn cùng khắp. “Người Lamã thà nghèo mà độc lập giữa quân mọi rợ, còn hơn chịu gánh nặng thuế giữa người Lamã” (Orôsiô) và “Người nghèo ước mong kẻ thù đến cho rồi; họ cầu xin Thiên Chúa gởi quân mọi rợ đến cho họ” (Salvianô).
Những nguyên nhân tinh thần và đạo đức: Kitô giáo được thiết lập trong lòng xã hội thượng cổ, không thể một sớm một chiều có thể biến đổi toàn bộ xã hội ấy được. Chẳng những vì trong xã hội còn nhiều lương dân, mà ngay cả những người mới trở lại cũng để cho lây nhiễm thói xấu. Việc Tin mừng hoá không thể làm ngưng sự suy thoái đạo đức cái một được! Từ giai cấp thượng lưu nhàn hạ sống sa hoa–lụa Đông Phương, dầu thơm, cà rá khắp các ngón–cho tới giai cấp hạ lưu lười biếng, suốt ngày chỉ đánh cờ, ít có người Tự Do nào chịu làm việc. Về tình dục thì ly dị, làm đĩ, đĩ cái, đĩ đực, không sinh đẻ. Các trò chơi đẫm máu nơi hý trường mặc dù các hoàng đế cố làm giảm đi, vẫn còn cống hiến cho dân chúng những thú vui suy thoái trong khi theo lời thánh Âu Tinh, “kẻ thù đã tới trước cửa và đang cắt cổ anh em chúng”.
Những nguyên nhân tinh thần: phiếm thần suy thoái, chỉ còn là một hình thức bảo thủ. Trung thành với chữ nghĩa thánh hiền chỉ còn nơi một số trí thức hoặc đại lãnh chúa. Còn trong quần chúng thì là một hỗn hợp mê tín, chiêm tinh, phù thuỷ…
Xã hội Lamã đầu thế kỷ V, đúng như lời thánh Euchêrô, Giám Mục Lyon, là một “thế giới đầu bạc”. Nền văn minh Lamã đã hết thuốc chữa! Điều đáng ngạc nhiên không phải là vì nó chết, mà là nó hấp hối lâu quá! Những nguyên nhân sâu xa, quyết định sự sụp đổ của nó, đã có từ hai thế kỷ rồi. Ngay vào giờ mà mọi sự rạn nứt cả, vẫn có người dám đương đầu, không chịu đầu hàng. Ngay những nhân vật bù nhìn nhất, như các Hoàng đế, lòng kiêu hãnh trung thành với quá khứ, khiến họ có nghị lực, như Hônôriô, bị vây trong đầm lầy Ravenna, không binh đội, không phương tiện hành động, thế mà vẫn ngoan cường, từ chối Alaricô tước “Chỉ Huy Trưởng Quân Lực”, vì ông xét thấy hắn không xứng đáng!.
Thời kỳ này rất phức tạp và thường bị các sử gia khinh bỉ, khinh bỉ cả quân mọi rợ, lẫn người Lamã bất lực. Nhưng thời kỳ này cũng là thời kỳ chuẩn bị quyết định, trong đó tương lai nảy mầm trong bùn và máu! Bởi vì trong lòng xã hội hư mất này có một thế lực có khả năng đem lại cho thảm kịch này một ý nghĩa, tổ chức sự hỗn độn, sáp nhập quân mọi rợ vào nền văn minh và sử dụng sức mạnh trẻ trung của họ, để đem lại sức sống cho thế giới. Thế lực đó là Giáo Hội.
4. Giáo Hội trẻ trung
Vào lúc xảy ra bão tố mọi rợ thì Kitô giáo đã khải hoàn gần một thế kỷ. Cuộc chiến giữa Đế Quốc Lamã Ngoại Giáo với Kitô giáo bắt đầu thời Nêrô đã chấm dứt năm 313 với chiếu chỉ Milanô của Hoàng đế Constantinô: “Kitô hữu được hoàn toàn tự do theo đạo”. Trở thành những người Bảo Vệ của Kitô giáo, các Hoàng đế ngày càng gắn bó với đạo này. Việc Giulianô Bội Giáo muốn đưa Rôma trở về phiếm thần thất bại, chứng tỏ rằng tình thế không thể đảo ngược. Cuối cùng, năm 380, tại Thêssalônica, Hoàng đế Thêôđôsô đã tuyên bố Kitô giáo là quốc giáo. Vào lúc cảm thấy bị đe doạ, Đế Quốc đã dựa vào Thập Giá.
Kẻ thù cũ của Kitô giáo bị hạ bệ, bây giờ phiếm thần trở thành “Đạo bất hợp pháp”! Nhiều luật lệ được ban hành, nhằm trấn áp nó. Ngày 5/8/395, Arcariô và Hônôriô tuyên bố rằng các luật chống ngoại giáo của tiên đế phải được thi hành triệt để: cấm phù thuỷ, cấm sát tế, cấm cả ăn giỗ là điều người xưa rất thích, cấm cúng cơm. Các nhân viên thờ tự của Đế Quốc bị tịch biên nốt những đặc ân cuối cùng vào năm 396. Năm 408 cấm tất cả các kẻ thù đức tin của Hoàng đế vào làm công nhân viên trong guồng máy hành chính của cung đình. Các đền miếu bị đóng cửa, hoặc biến thành nhà thờ, các tượng thần được giữ lại coi như tác phẩm nghệ thuật, nhưng thường là bị đập. Dĩ nhiên có chống đối công cộng. Nhiều nơi việc đóng cửa đền miếu gây ra cuộc nổi loạn, như ở Alêxanđria (Ai cập), Gaza (Palestina), Syria, Libanô. Ở Phi Châu thời thánh Âu Tinh, người ngoại giáo tấn công nhà thờ và cộng đồng Kitô giáo ở nhiều nơi. Và chống đối cá nhân: làm sao cấm việc cúng cơm trên bàn thờ gia tiên, hoặc giết vài con cừu theo lễ nghi cổ truyền? Khi Alaric vây Rôma, tổng tài Tertullus đã quan sát gà thần, dùng gậy vẽ lên trời những vòng tròn và thăm dò cánh chim bay! Nhưng đó chẳng qua chỉ là sự giẫy chết của niềm tin cũ, niềm tin này còn “tị nạn” trong sự mê tín của thế giới bình dân, hoặc trong sự ham thích tài tử của vài tri thức. Với Kitô giáo, phiếm thần không còn nguy hiểm nữa.
Về pháp lý, chẳng những mọi quyền Giáo Hội được công nhận mà Giáo Hội còn được đặt trên các luật chung nữa. Vào thời buổi sưu cao thuế nặng, Giáo Hội được đặc ân về thuế vụ nhất là hàng giáo sĩ được miễn “thuế thân”. Từ thời Constantinô, Giáo Hội có quyền tài phán dân sự và càng ngày người ta càng thích toà án của Giáo Hội hơn toà án đời, vì nó công bằng hơn và nhất là nó … miễn phí, đến nỗi dần dần người ta có biện pháp ngăn chặn trào lưu này, e rằng toà án đời mất hết thân chủ! Các nhà thờ trở thành nơi tị nạn thế chỗ các đền miếu xưa, trừ những tội phạm đã được xác nhận và con nợ… Nhà Nước không được hưởng quyền này! Ngay trong các vấn đề hình sự, Giáo Hội có quyền xử lý nội bộ các giáo sĩ, đó là “đặc ân tài phán” rất quan trọng trong thời Trung Cổ. Nhà Nước còn đứng ra làm “Cánh Tay Trần Thế”, để phục vụ Giáo Hội theo tư tưởng của thánh Au Tinh. Và ít có Hoàng đế nào trong khi trị vì lại không tuyên bố như Hônôriô rằng: “Không bao giờ làm suy yếu các đặc ân của Giáo Hội khả kính”.
Nhưng đây không phải là điều cốt lõi. Sức mạnh Kitô giáo không ở chỗ liên kết với chính quyền, mà trái lại, chính Giáo Hội nâng đỡ chính quyền của Đế Quốc Lamã. Sức mạnh đích thực của Giáo Hội ở trong sự trẻ trung của mình trong sức bật kỳ diệu của Giáo Hội. Kitô hữu thời nay khó tưởng tượng được Đức Tin của tổ tiên ta 15 thế kỷ trước ra sao, vào lúc Đức Tin đó chiến thắng, sau bao thử thách đau thương? Đám đông đã được Rửa Tội kia đã nhiệt tình biết bao nhiêu khi họ được biết rằng tương lai thuộc về họ. Các Vương Cung Thánh Đường mới tinh, tươi trẻ mọc lên trên đất Lamã xưa cũ, đúng là những đền thờ của Hy Vọng và Phục Sinh. Người ta đã ca hát, người ta nghe giảng sốt sắng như thế nào?
Dĩ nhiên, không phải mọi sự đều hoàn hảo. Giáo Hội đầu thế kỷ V không còn là thiểu số ưu tuyển thuở ban đầu nữa. Chẳng hạn một số tín hữu có lầm lạc, sai trái, có bạo hành. Tại nhiều nơi thường xảy ra việc các Kitô hữu kích động bởi sự cuồng tín, bạo động khiến người ngoại giáo chống đối như đã thấy. Khắp Đế Quốc nhiều vụ bạo động xảy ra, chứng tỏ rằng bài học Bác Ai của Tin mừng chưa thấm nhiễm sâu xa nơi một số tín hữu. Trước những hành động phá đền miếu, đập tượng thần–thường là vô giá xét về mặt nghệ thuật, Hoàng đế phải ban hành các biện pháp bảo vệ những tài sản phong phú ấy. Đó đây, có cả những cuộc tấn công nhắm vào con người. Trứ danh nhất là vụ giết bà Hypatia, nữ triết gia nổi tiếng về tư tưởng Tân Platon tại Alêxandria vào tháng 3 năm 415, bởi một đám tù giây khổ sai, bị một vị độc thư Kitô giáo kích động, chúng đã lôi bà ra khỏi xe đang khi bà đang trên đường đi dạy học, lôi vào nhà thờ lột áo và chặt ra từng mảnh. Nhưng trong Giáo Hội có một sức sống, một sự mạnh dạn, một ý chí chinh phục, khiến Giáo Hội–với quân mọi rợ–trở thành sức mạnh duy nhất, hữu hiệu trong thời kỳ sụp đổ này.
Kitô giáo vẫn không ngừng bành trướng kể từ khi Chúa ra lệnh: “Rao giảng Tin mừng cho muôn dân”. Bây giờ, được sự ủng hộ của chính quyền càng thêm nhanh chóng. Vào đầu phần tư thế kỷ V, có thể nói chắc rằng không nơi nào trong Đế Quốc không nghe nói đến Đức Kitô. Dĩ nhiên, còn khác biệt về mật độ, đại đa số dân Đông Phương đã được Rửa tội, trong khi ở Tây Phương nhiều nơi vẫn chưa trở lại, ấy là chưa kể dân mọi rợ, ngoại giáo hoặc lạc giáo. Nói chung nửa dân số Đế Quốc đã theo đạo tức 50 triệu người trong số 100 triệu dân. Đủ mọi giai cấp: tầng lớp lãnh đạo trở lại hơi nhiều và hơi nhanh, từ khi xưng mình có đạo lại là hành động chính trị được đánh giá cao! Ở nông thôn, mặc dù nhiều cố gắng, nhất là của thánh Martinô thành Tours, Tin mừng vẫn chưa tiến được vì vấp phải sự mê tín dị đoan và sự gắn bó với các lễ lạc thiên nhiên cổ truyền. Trở ngại này sẽ được dẹp từ từ. Trong cuộc chiến đấu nhằm chinh phục các linh hồn, Giáo Hội không biết đến biên giới, ngay cả biên giới Đế Quốc cũng vậy. Các tiền đồn xa xôi được thiết lập tận Armênia, Arabia, Ethiôpia, hướng về An Độ…
Kitô giáo ảnh hưởng sâu xa trên xã hội: trước sự độc tài của Đế Quốc, Giáo Hội, qua các vị Giám Mục đã đương đầu với bạo chúa. Hàng giáo sĩ được hưởng những đặc ân trở nên quyền thế, là người bảo vệ tự do công cộng và bảo đảm nhân quyền. Là con Giáo Hội, Hoàng đế không thể không tuân lệnh Giáo Hội mà không lập tức bị nhắc nhở, trở về với trật tự, như thánh Ambrôsiô đã làm với Hoàng đế Thêôđôsô. Nhờ vậy, nói chung sự cai trị của vua chúa có đạo đức được Bác Ai hơn: thói quen hưu chiến Phục Sinh được thi hành hầu như hàng năm, các nguyên tắc Tin mừng từ thời Constantinô bắt đầu thấm nhiễm luật pháp, như trừng trị tội bắt thề, hoặc cáo gian, phỉ báng, cho vay nặng lãi, bỏ hoặc bán trẻ sơ sinh. Đối xử với phụ nữ được tế nhị hơn. Các nữ diễn viên theo đạo được phép rời sân khấu, mặc dù luật cấm không ai được rời bỏ nghề nghiệp của mình. Đạo lý công cộng được bảo vệ nghiêm túc, mặc dù các trò chơi không thể xoá bỏ ngay được, người ta đã bãi bỏ tính cách độc ác nhất của nó, bằng cách cấm giết người. Tội phản thiên nhiên , ngoại tình bị trừng trị để làm gương. Trong thời kỳ suy thoái này, hoạt động của Giáo Hội đã giữ gìn cho các nhân tố tốt nhất của Đế Quốc khỏi thối nát, Giáo Hội đã chuẩn bị cơ sở cho việc tái thiết tương lai.
Và đồng thời, những mầm mống tinh thần mà Kitô giáo đã gieo vào trong lòng xã hội, Mẹ Giáo Hội, Mater Ecclesia đã bảo toàn và truyền đạt cho các thế hệ tương lai. Nếu Giáo Hội Công Giáo Lamã không phải là một tổ chức trần thế đáng khen, thì những nguyên tắc hay nhất của Tin Mừng sẽ ra sao? Có lẽ cũng đã bị những làn sóng kinh khủng của cuộc đại xâm nhập làm tan rã, rồi bị hấp thụ, bị pha loãng trong một nền mọi rợ nào đó, ai biết? Nhưng rõ ràng Giáo Hội là một tổ chức trần thế đáng phục, ngày càng được tổ chức, ít nữa là ở Tây Phương, chung quanh Giám Mục Rôma là Đức Giáo Hoàng, rập khuôn theo nền hành chánh Đế Quốc ngày càng thích nghi với nhiệm vụ thực tế, từ khi chính quyền dân sự sụp đổ, Giáo Hội là điểm vững chắc trong một thế giới tất cả đều chao đảo. Trong cơn bão tố, Giáo Hội là những cái Đập ở Hải Cảng không bao giờ bị lật đổ. Ngay thời bấy giờ thi sĩ Lactanciô đã nói: “Duy mình Giáo Hội bảo toàn và nâng đỡ tất cả”.
5. Đem lại thảm kịch một ý nghĩa
Điều mà con người cần nhất, để hoạt động của họ ở thế gian được hữu hiệu, đó là có được một ý nghĩa về mục đích mà những cố gắng của họ hướng đến, ít nữa là một cách trực giác. Và dịch vụ sâu sắc nhất mà Kitô giáo đem lại cho con người thế kỷ thứ V, ít nữa là giới trí thức, là đem lại cho thảm kịch thời đại họ một ý nghĩa, là không bỏ rơi họ–cô đơn và lo sợ, bên bờ vực thẳm.
-Phản ứng chung của người đương thời, trước thảm kịch có hai thái độ: giới bình dân, thời nào cũng vậy, luôn đi từ sợ hãi kinh hoàng đến tranh thủ hưởng lạc. Giới những người có đầu óc: Ít ai có được cái nhìn sáng suốt về tình thế. Đa số đều hi vọng rằng cơn khủng hoảng rồi sẽ qua thôi! Tây Phương bị đe doạ ư ? Họ hướng về Đế Quốc Đông Phương, hi vọng cứu thoát từ đó. Họ cố bám vào một ý tưởng cổ truyền, rằng Thành là Thành Muôn Thuở. Sự thống trị của thế giới đã được hứa ban cho nó.
Siđôniô Apôlliariô khẳng định: “Rôma vẫn luôn luôn là đỉnh cao của thế giới”.
Ôrôsiô, sử gia Kitô giáo, một trong những người có quan điểm về tương lai sâu sắc nhất vẫn khẳng định rằng thời đại ông, nói chung, không đến nỗi phiền lắm, ông vẫn sống tốt thôi!…
-Phản ứng của các Kitô hữu
Thánh Giêrônimô viết: “con tàu chìm rồi!”.
Thánh Orensô, Giám Mục Auch: “Tại sao lại đi kể chuyện đám tang của một thế giới đã sụp đổ, theo định luật bình thường của tất cả những gì hư mất?”.
Thánh Âu Tinh ghi: “Có lẽ còn chưa phải là ngày tận cùng của Thành, nhưng Thành cũng sắp có một ngày cùng thôi!”.
Salvianô, năm 450 nói: “Đế Quốc Lamã đã chết rồi, hoặc ít ra cũng đang hấp hối, ngay cả ở chỗ nó có vẻ còn sống!”
Phản ứng của các Kitô hữu không giống nhau ở mọi nơi và mọi lúc:
Có những người, có nhiều quan hệ gắn bó với thế kỷ thượng cổ đang giẫy chết, nhất là những người trí thức có văn hoá La-Hy thì như trời giáng. Thánh Giêrônimô trong chốn tịch liêu ở Bêlem viết: “Tôi tắt tiếng. Sự nức nở làm tôi nghẹn lời. Thành đã bị chiếm, nó là kẻ đã từng đi chiếm thế giới!”. Nó chết đói cũng bằng chết vì gươm giáo, nó bốc cháy, nó, cái đầu vinh hiển của Đế Quốc! Hôm nay tôi bắt đầu nghiên cứu Edêkien, nhưng vào lúc đọc phải cho các thư ký viết, tôi lại nghĩ đến tai hoạ tại Tây Phương và tôi phải im lặng, cảm thấy rằng thời kỳ than khóc đã đến!”.
Trái lại, những Kitô hữu được chuẩn bị để biến đổi thế giới, những người này rất nhiều, không chán nản.
Rufinô thành Aquilê, tị nạn ở Sicilia thấy rợ Gốt đốt phá Rhegium, bên kia bờ biển, vẫn viết lách và dịch sách, coi như niềm an ủi duy nhất trong cảnh khốn cùng.
Thánh Âu Tinh, trong một bài giảng nổi tiếng về Rôma thất thủ, thú nhận người rất buồn về những tin tức nhận được, về những đống đổ vỡ, về những bạo hành tra tấn. Nhưng ngay lập tức, người chỉ có một khát vọng là đem lại sự can đảm cho quần chúng sợ hãi đang nghe người và để trả lời cho sự lo âu của chính mình cũng như của thế giới, người sẽ viết tác phẩm “Thành Trì Thiên Chúa”. Theo người, nhiệm vụ của Giáo Hội là cứu lấy hi vọng: “Hãy nghe Đức Kitô nói với bạn đây! người bảo bạn rằng: - Tại sao lại sợ, tất cả những điều này tôi lại chẳng báo trước với bạn đấy ư? Tôi đã báo trước, để khi bất hạnh xảy đến, hi vọng của bạn sẽ hướng về sự thiện đích thật, thay vì mờ đi giữa thế gian này”.
Cái ý tưởng cho rằng tất cả mọi biến cố, dù khủng khiếp đến đâu đều tuân theo Thánh Ý và thuộc về một lôgic vô cùng thuận lợi, đó là ý tưởng vĩ đại, chủ chốt mà Kitô giáo đề nghị với thế giới để làm phấn khởi lòng người.
Linh mục Phaolô Orôsiô, môn đệ tinh thần thánh Âu Tinh. Ở Tây Ban Nha năm 417, công bố cuốn Lịch Sử Thế Giới đã triển khai tư tưởng trên.
Linh mục Salvianô, ở Marseille, về sau trong các bài giảng vẫn nhắc đi nhắc lại hoài rằng: “Anh em than trách Thiên Chúa đã để cho mọi sự sụp đổ ư ? Không đâu! Thiên Chúa cai trị thế giới! Nó là đối tượng Người hằng săn sóc. Nói rằng Người không săn sóc gì đến thế gian này là không đúng!”.
Thánh Paulinô thành Nôla, trong Toà Giám Mục, nơi mà Alaric đến đánh người, cũng như nhà thi sĩ vô danh thành Aquitania, người đã viết Khúc Ca Thiên Hựu vào năm 416, 10 năm sau khi quân mọi rợ xâm nhập xứ Gaule, đều nghĩ như thế.
Nhưng nếu Thiên Chúa cai trị thế giới thì tại sao Người lại để xảy ra nhiều đau khổ như thế! Các Kitô hữu có đức tin lớn tìm thấy câu trả lời trong sự xét đoán xã hội đương thời, ngay cả và nhất là, Kitô hữu:
Thánh Giêrônimô viết: “Chính tội lỗi chúng ta tạo sức mạnh cho quân mọi rợ. Chính các thói xấu của chúng ta đã chiến thắng binh đội ta”.
Thánh Âu Tinh: thay vì ngạc nhiên vì bị Thiên Chúa trừng phạt, tốt hơn nên tự xét mình và tự hỏi xem mình bị trừng phạt có xứng đáng chăng?
Orôsô tuyên bố: việc Alaric chiếm Rôma là hình phạt thích đáng đối với tội lỗi của Thành.
Salvianô, bị quân Vandale xua đuổi ra khỏi xứ, đã thấy tận mắt bao nhiêu đổ nát và đau khổ, đã nổi giận khi thấy những người cùng thời, trước những thực tại khủng khiếp đã không có khả năng tỏ ra một thái độ Kitô giáo đích thật.
Những nhà tư tưởng Kitô giáo nói trên đã rút từ đắng cay đau khổ lý do để lao động nhiệt tình, chuẩn bị cho tương lai. Họ hiểu rằng không thể làm lại xã hội mà không làm lại con người trước đã. Lời kêu gọi canh tân các giá trị, từ thánh Ambrôsiô, thánh Âu Tinh đến những người kế vị các đấng trở thành sức mạnh sáng tạo, khả dĩ cứu vãn nền văn minh. Và như thế, trên thực tế chính Giáo Hội đã cứu vãn nó.
6. Những đập cản của Giáo Hội
Những đập cản của Giáo Hội trước cuồng phong bão tố mọi rợ là các Giám Mục và các Tu viện.
-Các Giám Mục
Thi hành trọn vẹn những chức năng nặng nề, vừa là linh mục, nhà phụng vụ, diễn giả, quản trị, cha tín hữu, nâng đỡ tất cả, các Giám Mục 4 thế kỷ đầu đúng là rường cột của Giáo Hội. Giáo Hội ở trong Giám Mục: Ecclesia in episcopo, lời thánh Cyprianô Giám Mục tử đạo bao giờ cũng vẫn đúng. Cuối thế kỷ IV, lúc xảy ra những rạn nứt đầu tiên, lúc chính quyền dân sự ngày càng suy thoái, nguy cơ ngày một gia tăng, các Giám Mục đã đứng lên hết cỡ: Thánh Ambrôsiô là một mẫu gương, chính Hoàng đế cũng phải thán phục.
Cơ may Chúa ban cho Giáo Hội, là khi xảy ra thảm kịch thế kỷ V, Giáo Hội có một đoàn đông đảo các Giám Mục đầy phẩm chất và nhân đức, hết lòng phục vụ Đức Kitô. Trong đời tư, các ngài sống đời sám hối, khinh dể thế gian, khiêm nhường, công bằng và khôn ngoan, luôn luôn sống như tu sĩ, chìm đắm trong Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng có mặt trước mọi đòi hỏi–thường là khủng khiếp–của bổn phận Giám Mục. Mang lời Thiên Chúa đến cho các cộng đồng mà các ngài quản trị, xây cất nhà cửa, thiết lập các Đan Viện, cử hành phụng vụ rất dài trong đó các ngài là người chủ trì duy nhất, đồng thời quản trị tài sản, thường rất đáng kể, lo cho những người bất hạnh, nghèo khổ, bệnh tật, chuộc tù nhân (bán cả các bình thánh vào việc này, như thánh Ambrôsiô, thánh Âu Tinh, thánh Hilariô thành Arles và nhiều đấng khác) cải hoá người ngoại đạo, văn minh hoá quân mọi rợ xâm chiếm lãnh thổ của các ngài.
Chẳng đặng đừng, các ngài còn phải thi hành vai trò chính trị nữa. Vào lúc mà cán bộ Đế Quốc hoặc Binh Đội Rôma thường tỏ ra không đủ khả năng thi hành chức vụ, thì đại diện không còn là thư lại hay võ biền mà là Giám Mục. Trong vô số trường hợp chính các ngài là những “Người Bảo Vệ Thành” đích thật, thường thì các ngài không mang tước hiệu đó, tước hiệu thuộc về một quan chức trong Thành, mà chỉ thi hành các chức năng của nó thôi. Lúc đó, các Giám Mục tỏ ra là những nhà lãnh đạo chính trị và quân sự. Thánh Âu Tinh, khi thành Hippone bị vây hãm đã động viên những người can đảm. Thánh Nicaise để cho người ta giết chết trong nhà thờ chánh toà Reims.
Thánh Exupêrô thành Toulouse chống quân Vandale khiến chúng lưu đày người .
Thánh Aignan trang bị người Orlean.
Thánh Loup bảo vệ thành Troyes và bao đấng khác nữa. Không sao kể siết. Dăm ba vị được ghi nhớ, như thánh Âu Tinh, thánh Gioan Kim Khẩu, còn bao đấng khác không được tín hữu thời nay biết tới, mặc dù các ngài đúng là đập cản trước cơn phong ba bão táp mọi rợ, nếu không có các ngài thì số phận của nền văn minh đã khác mất rồi.
Thánh Âu Tinh nổi tiếng nhất. Trong 34 năm làm Giám Mục (396–430) ở Hippone, sự nghiệp của người, chúng ta đãbiết.
Thánh Paulinô thành Nôla là bạn thư từ của thánh Âu Tinh, con của một danh gia vọng tộc, từng làm tổng tài rồi toàn quyền xứ Campania lúc 25 tuổi. Nghe tiếng Chúa gọi, người bán hết gia tài ở Aquitania cho người nghèo, trở lại Nôla làm Giám Mục năm 399, đem hết kinh nghiệm của một cán bộ cao cấp cũ ra quản trị các cộng đồng Chúa trao cho người phụ trách, một trong những thi sĩ Latinh cuối cùng, người đã đương đầu với Alaric và binh đội của y, khi y tới cướp phá Nôla, sau khi đã cướp phá Rôma, một cách rất anh hùng và bình tĩnh, năm sau, người qua đời (431).
Synêsius thành Cyrênê, cũng là một nhà trí thức, học trò của bà Hypatia, bên Aicập là thi sĩ làm nhiều thánh thi rất hay, Lamartine còn phải cảm động. Vốn là một đại lãnh chúa sống rất hạnh phúc, ý thức được giờ nguy cơ định mạng đã chấp nhận làm Giám Mục Ptôlêmaiis năm 410, từ bỏ cuộc sống dễ dãi săn bắn, làm thơ, tận hiến cho đoàn chiên, từng viết thơ cho Hoàng Đế, nói tiên tri về Nhật Nhĩ Man, lần lượt đương đầu với binh đội Ả Rập (bedouine), với sự cướp phá của quân mọi và với cán bộ của Đế Quốc. Người qua đời vì kiệt sức năm 413 (Bossuet gọi người là “Đại Nhân”, “Cả”…)
Quodvultdeus, cựu phó tế của thánh Âu Tinh, khi quân Vandale tiến công, quá sợ, người đã tính chuyện di tản! Nhưng khi trở thành Giám Mục Carthagô năm 437 thì người tỏ ra là một lãnh tụ Kitô giáo rất đáng phục, người tổ chức kháng chiến, chống quân xâm lược Vandale làm cho các đồng bào của người–bao dung quân xâm lược một cách quá dễ dàng–phải xấu hổ, khuyến khích cuộc kháng chiến bằng cách ngay trên toà giảng, đả kích Pharaô, Nabucôđônôsor, tới Hôlôpherne và các hôn quân bạo chúa khác trong Thánh Kinh mà hồi kết cuộc rất xấu. Thế là người bị xua đuổi khỏi toà, bị tước đoạt toàn bộ, phải di tản tới Napoli, tiếp tục chuẩn bị cuộc giải phóng. Khi chết người còn kêu lên: “Chúng chống Con Chiên, nhưng Con Chiên sẽ thắng chúng!”
Thánh Germaniô người Auxerre (380–448) khi qua Nanterre đã gặp thánh nữ Gênêviêva, lúc còn là một cô bé chăn chiên, và đã dẫn cô vào đường định mạng vinh quang. Người cũng vốn là đại lãnh chúa, thụ phong Giám Mục Auxerre năm 418, người chỉnh đốn lại Địa Phận, gia tăng công tác Bác Ai, luôn đi tìm các xứ chưa có đạo để đem Tin Mừng đến, hai lần sang Anh để bảo vệ Đức Tin chống lạc giáo Pêlagiô, gần 70 tuổi còn đi cứu trợ dân chúng miền Tây xứ Gaule bị rợ Alain và Bagaude tàn phá, dùng uy tín thánh thiện dẹp yên quân mọi rợ. Khi người qua đời tại Ravenna, năm 448, các tín hữu đã rước xác người về Auxerre ban đêm dưới ánh đuốc.
Thánh Hilariô thành Arles, làm Giám Mục năm 30 tuổi (428) ảnh hưởng của người quang toả khắp miền nam xứ Gaule, đem Tin mừng cho người ngoại giáo và chống Bè Rối.
Thánh Euchêrô thành Lyon vốn là nguyên lão nghị viện, văn sĩ có tài, được gọi lên chức Giám Mục năm 434, bảo vệ quyền lợi Giáo Hội trước mặt rợ Burgonde, bốn trong số các con của người sẽ được phong thánh.
Thánh Marcêlô, ở Paris làm Giám Mục từ 405 – 436. Người là đấng đã làm cho dân Paris trở lại và là một nhà quản trị tài ba đã làm sáng danh giáo phận Lutéce (Paris) nhiều nhất, kể từ khi “ông Thánh Đêni” tử đạo.
Thánh Siôđônô Apôllinariô, Giám Mục Clermontê – Ferranđô năm 471, là nguyên lão nghị viện, rể của Hoàng đế Avitô, thi sĩ, luôn có mặt bên đoàn chiên để giữ họ cho Đức tin chân chính và cho văn minh, chống quân xâm lược Tây Gốt, nên bị lưu đày và bỏ tù ở Carcassonne.
Còn nhiều đấng khác thái đô đầy phẩm giá, như các Giám Mục Vienna, Bordeaux, Albi, Augoulême, Clermonte, Cahors, Pêrigueux, ở xứ Gaule.
Ở Ý, thánh Maximô thành Turinô, thánh Phêrô Kim Ngôn ở Ravenna, nhất là các Giám Mục Rôma mà vai trò vượt xa ranh giới một giáo phận, hiện thân vĩ đại nhất là thánh Lêô Cả.
Trong cơn cuồng phong khủng khiếp làm chao đảo thế giới, số các lãnh tụ Kitô giáo tỏ ra yếu đuối quá ít: vài Giám Mục Tây Ban Nha di tản trước rợ Vandale, vài chức sắc đó đây nhanh nhảu hợp tác với quân xâm lược. Nhìn chung hàng giáo phẩm Công Giáo tỏ ra hết sức gương mẫu và thái độ của các ngài hết sức quan trọng với Kitô giáo và với nền văn minh.
-Các Đan Viện
Chế độ Đan tu phát sinh tại Đông Phương do sáng kiến của thánh Antôn và các Sa Phụ dưới hình thức ẩn tu, rồi chuyển sang hình thức biệt tu. Nhờ thánh Pacômô, rồi cuối cùng được thánh Basiliô tổ chức lại ở Tiểu Á. Chế độ này phát triển rất rộng vào nửa sau thế kỷ IV. Khoảng năm 400, trong khắp thế giớ Kitô giáo không nơi nào không có những cộng đồng nam hoặc nữ tận hiến cho Chúa, sống đời khổ hạnh và cầu nguyện, theo các nguyên tắc của một lề luật đã được cố định nhiều ít.
Ở Rôma, ngoại ô ở Milanô, châu Phi đều có nhiều cộng đồng dòng tu quan trọng.
Ở xứ Gaule:
Thánh Martinô lập dòng Ligugé, rồi Marmoutier phát triển nhanh chóng.
Thánh Cassianô tập họp trong Đan Viện Thánh Victoriô một nhóm người chiêm niệm tại Marseille.
Rômanô và Lupicino lập đan viện Conđatô ở Jura.
Thánh Hônôratô lập Đan Viện Lêrins vào cuối thế kỷ IV. Vốn là quí tộc xứ Gaule, Hônôratô noi gương các tu sĩ Đông Phương lập Đan Viện Lêrins. Việc này đã nhanh chóng thu hút hàng trăm, có khi hàng ngàn linh hồn, những hoang đảo giờ đây đầy những nhà ẩn tu và những căn lều của những người cầu nguyện “những người đi tìm Thiên Chúa”, như thánh Hilariô thành Arles đã nói. Bản thân người cũng là một đan sĩ Lêrins.
Các tu viện có ba vai trò:
-Tinh thần: Hoạt động của Giáo Hội thời mọi rợ được hữu hiệu là nhờ dựa trên ân sủng siêu nhiên, trên đời sống nội tâm sâu xa, trên sự tiếp xúc thường xuyên với Thiên Chúa. Chính các tu viện đã bảo đảm những tinh thần ấy. Những người dấn thân hoạt động đều cảm thấy cần có bên cạnh một cộng đồng huynh đệ và cầu nguyện, để họ được sống trong đó, hoặc ít nữa được thường khi đến đó tĩnh tâm. Đó là điều thánh Martinô đã làm ở Marmoutier, thánh Âu Tinh ở Hippone, thánh Paulinô ở Nôla, thánh Hilariô ở Arles.
-Vườn ương Giám Mục: một loại chủng viện cao cấp đào tạo các nhà lãnh đạo Kitô giáo tương lai: chính từ cộng đồng Âu Tinh ở Hippone đã nảy sinh ra những vị Giám Mục Phi Châu tốt nhất thời đó. Từ Lêrins vô số tu sĩ được gọi lên chức Giám Mục: Hilariô thành Arles, Euchêrô thành Lyon, Faust thành Riez, Loup thành Troyes… ngay cả xứ Gaule nữa: thánh Patriciô tông đồ Ai Nhĩ Lan, là một tu sĩ Lêrins. Anh hưởng Đan Viện này quá lớn đến nỗi nhiều vị Giáo Hoàng như Đức Lêô đã phản ứng chống lại việc các Toà Giám Mục bị tu sĩ xâm nhập…
-Văn minh: Các cộng đồng biệt tu đã đóng vai trò người làm Văn Hoá, một vinh dự của các tu sĩ Tây Phương. Dĩ nhiên, còn khiêm tốn thôi:
Bằng cách thu hút các thanh niên mọi rợ vào hàng ngũ của mình, các tu sĩ đã đóng góp vào việc làm dịu tính dộc ác rất nhiều.
Bảo toàn các truyền thống và các nhân tố văn hoá bị đe doạ. Lêrins và Marseille là những trung tâm tri thức, nơi soạn thảo một số lớn các Tử Đạo Công Vụ, tham dự các cuộc chiến lớn, về Giáo lý, của khắp thế giới Kitô giáo, nơi thánh Vinh Sơn đệ Lêrins chế ra cuốn Giáo Lý đầu tiên…
Trong tất cả các tu viện đều có trường học, rất đông học sinh nên tu viện có ảnh hưởng rất lớn trong việc bảo vệ Giáo Hội và Văn Minh, ảnh hưởng này còn lớn lao hơn nữa, khi cộng đồng đan tu Tây Phương gặp được bậc thầy là thánh Biển Đức trong thế kỷ sau.
7. Đối diện người mọi rợ
Vấn đề quan trọng nhất thời đại, do sự hiện diện của người mọi rợ trong Đế Quốc Lamã gây ra, đã được Giáo Hội giải quyết vì chỉ Giáo Hội mới có khả năng làm công việc đó.
Từ khi người Nhật Nhĩ Man đặt chân vào Đế Quốc Lamã, giữa họ với “người Lamã” – nhiều khi chỉ là dân tạp chủng, đánh qua một lớp vernis Latinh – đã hình thành một mối quan hệ phức tạp, mâu thuẫn thay đổi tuỳ từng nơi, từng lúc, từng người.
Về mặt pháp lý, tình hình người mọi rợ xâm nhập cũng dễ giải quyết thôi. Từ lâu họ đã định cư trong Đế Quốc với tư cách là “Bang”.bây giờ có pháp lệnh đột xuất yêu cầu dân chúng nhường cho họ một phần nhà mình. Chiếu chỉ của Hoàng đế Arcađiô và Hônôriô năm 398 qui định 1/3 nhà cửa. Và khi những vị “khách” (từ chính thức của Nhà Nước) này tạm trú hơi lâu thì người ta yêu cầu dân chúng cho họ 1/3 lợi tức vườn, ruộng rừng, bầy xúc vật, đến cả 1/3 công việc nữa! Điều lạ là chế độ này lại được người mọi rợ, những người mới tới, những kẻ xâm lược áp dụng. Kể ra Rôma cũng uy tín!… Trừ trường hợp hoạ hiếm, họ đều tự coi là “khách tạm trú”. Đôi khi họ cũng đòi hỏi tí ti: rợ Burgonde đòi 2/3. Những địa chủ Lamã của các lãnh địa lớn là bị nhắm nhiều nhất, họ liền móc nối, chia chác nguồn lợi với một lãnh tụ bộ lạc Nhật Nhĩ Man. Và việc “đãi khách” này, bằng cách phân tán mỏng người mọi rợ, đã góp phần làm cho Lamã hấp thụ quân mọi rợ, bất chấp những biện pháp phòng ngừa–ít nữa là lúc đầu–như ngăn cản người mọi rợ kết hôn với dân Lamã…
Quan hệ cá nhân: hầu như khắp Đế Quốc đều có người mọi rợ, họ ở ngay trong nhà bạn, bạn gặp họ ngoài đường, sống chen vai thích cánh trong các thành phố. Lúc đầu người văn minh rất có ấn tượng đối với những binh đội to lớn, mặc áo da, đội nón hai sừng, vai vác cung, tay cầm giáo sạc cốt quàng cổ ngựa to tổ bố. Và, vì dường như lúc nào họ cũng có xe cộ, vợ con đi theo nên người ta có cảm tưởng như một làn sóng không sao cưỡng nổi.
Dần dần, người ta bớt sợ, nhưng quan hệ với bọn võ biền Nhật Nhĩ Man vẫn khó chơi. Các nhà văn đương thời không giấu diếm việc họ khó chịu trước rợ Burgonde sặc mùi bơ, mùi hành, hoặc rợ Gốt ngày nào cũng phải cắt lông mũi! Sự khinh bỉ người mọi rợ, thừa hưởng của người Hylạp, rất sinh động trong lòng dân Lamã.
Sự khinh bỉ, sự ghê tởm kia có đi tới chỗ nổi giận và hận thù hàng loạt có tổ chức chăng? Ngay lúc đầu, đau lòng vì cảnh đổ nát và bạo hành thì có. Từ thánh Giêrônimô đến thánh Âu Tinh, từ Paulinô thành Bêziers tới nhà ký sự Tây Ban Nha Iđacô, rất nhiều người sùng cơn, đổ quạu, chửi um người mọi rợ lên! Nhưng không phải là tất cả mọi người đều luôn luôn như thế, trừ trường hợp rợ Vandale, không có sự “đề kháng” có tổ chức với người mọi rợ, trên nguyên tắc, được coi là kẻ thù, hơn nữa chính người mọi rợ cũng không tự coi mình là thế bao giờ.
Nhưng nói rằng tất cả người mọi rợ đều thán phục văn minh Lamã và sẵn sàng học đòi là nói quá. Nhiều bộ lạc có khả năng tham lam cố hữu. Lúc đầu cuộc xâm nhập, đó là bản năng của rợ Vandale, về sau tham lam vẫn còn là bản năng của rợ Saxon, Alaman, Lombard. Trong nhiều trường hợp, thú cướp bóc, vồ, vơ vét còn đi đôi với tình cảm khác: Alaric năm 410 cướp phá Rôma phần lớn là do uất ức, vì Hoàng đế Hônôriô từ chối không ban cho hắn chức tước mà hắn ước ao. Vô số người mọi rợ không coi Đế Quốc là kẻ thù mà chỉ coi là một nghề: “Chúng mơ ước mang những chức tước của các cấp chỉ huy Lamã bự. Ngay trong quần chúng, các bộ lạc vẫn có một tình cảm mơ hồ, nhưng thành thật đối với sự tổ chức, sự phồn vinh và truyền thống Lamã, chỉ trừ rợ Vandale là khinh bỉ và hận thù ra mặt đối với người văn minh, tại châu Phi, Gensêric, vua Vandale theo đuổi chính sách xoá bỏ có hệ thống nền văn minh Lamã, trả lời những kẻ than vãn, hắn nói: “Ta đã thề huỷ diệt tên tuổi các ngươi và dòng giống các ngươi, thế mà các ngươi dám xin ta điều này điều nọ”.
Tuy nhiên, người mọi rợ chỉ là thiểu số, có khả năng bị dân bị trị đồng hoá. Quân mọi rợ chỉ chiếm khoảng 5% dân số, nghĩa là lối 500 ngàn/100 triệu. Bằng chứng là: mẫu người Nhật Nhĩ Man ngày nay rất hiếm ở miền nam nước Pháp, Ý và Tây Ban Nha, ngôn ngữ Latinh vẫn tồn tại khắp Tây Phương.
Sự ít oi về dân số này giải thích tại sao chẳng bao lâu các đức tính nổi tiếng của người mọi rợ mà Salvianô ca tụng biến mất trong sự suy thoái Lamã. Và từ sự hỗn hợp hai nhân tố, chỉ nảy sinh ra sự bạo hành, dâm đãng, tham lam, độc ác là đặc điểm của các vương quốc mọi rợ trong ngày tàn nổi tiếng thời nhà Mêrôvê. Âu Châu Đế Quốc không Nhật Nhĩ Man hoá mà chỉ mọi rợ hoá!…
Lúc đó, vấn đề đặt ra là liệu có thể hợp tác với người mọi rợ, cùng làm việc chung, để canh tân Đế Quốc Lamã và làm trẻ trung hoá nền văn minh không? Các Kitô hữu thế kỷ V nghĩ là có. Phản ứng của những người này là cuộc xâm nhập của quân mọi rợ không phải là thế mạt. Giáo Hội không ngồi nuối tiếc quá khứ nhưng ý thức được thảm kịch, Giáo Hội chọn một thái độ khác. Thánh Âu Tinh, trong Thành Trì Thiên Chúa, cho rằng: phải vượt qua Đế Quốc hấp hối, để thai nghén một thế giới mới. Dù gắn bó với Lamã, người vẫn cảm thấy phải vươt qua thôi, vì nó “bất xứngvới danh hiệu Nhà Nước”, bất trung với công lý Đức Kitô. Orôsiô môn đệ của người, chấp nhận ý tưởng thu nhận người mọi rợ vào một Roma chế (Romania) mở rộng và biến đổi thành một Đế Quốc mới, một loạt liên bang các quốc gia Kitô giáo dưới quyền Đức Giáo Hoàng, ý tưởng này về sau Hoàng đế Othon III sẽ thực hiện. Salvianô đưa người Nhật Nhĩ Man ra làm gương nhân đức cho người Lamã là có ý kêu gọi người Công Giáo vứt bỏ những nhân tố thối nát của thế giới cũ, để tạo ra một tình trạng mới, một trật tự mới. Dĩ nhiên, phải khôn ngoan, phải lưu tâm đến yếu tố thời gian, nhiều người đã nhảy ra “hợp tác” với rợ Tây Gốt đã thất bại đau. Nhưng, những điều vào năm 417 là liều lĩnh nguy hiểm thì vào năm 460 hầu như được mọi người chấp nhận, trong chính trị thì chân lý chỉ là vấn đề thời gian thôi…
Tình cảm Kitô hữu tiến triển, hướng về người mọi rợ, khiến hy vọng có thể có sự hoà hợp. Bởi vì:
Giáo Hội luôn có ý thức thực tế về những đòi hỏi chính trị: trong cảnh hỗn loạn chung, người mọi rợ tạo thành một sức mạnh, tại sao từ chối sử dụng họ?
Đế Quốc đổ kềnh, đối thủ cũ là phiếm thần La-Hy bị xoá bỏ, để lại chỗ trống.
Hàng Giáo phẩm Công Giáo cảm thấy rằngtrong sự sụp đổ của trật tự cũ, vai trò cá nhân của mình lớn lên, rằng Giáo phẩm trở thành sức mạnh hàng đầu của trật tự, các Giám Mục nhận thấy rằng trong nhiều trường hợp, chính các ngài áp đặt người mọi rợ!
Những người có nhiệt tình Tông Đồ muốn tranh thủ cho Đức Kitô linh hồn quân xâm lược và đồng thời cũng là tranh thủ họ cho Văn Minh.
Đó là tâm tình của những người nắm trong tay trách nhiệm của Giáo Hội. Điều này không có nghĩa là có cả một kế hoạch có hệ thống để làm cho người mọi rợ trở lại. Nếu Công Giáo quyết định chấp nhận họ, chinh phục họ thì chỉ vì yêu cầu gieo hạt giống Tin Mừng khắp mọi nơi! Vì Giáo Hội có một sức mạnh tinh thần vô địch, một tổ chức duy nhất, một tính phổ quát tiếp nối trước mặt người đời, tính phổ quát của Rôma, đã cũ, đã chết. Trong công trình táo bạo là chinh phục người mọi rợ, Giáo Hội đã thành công.
8. Liên minh chống Hung Nô
Giữa thế kỷ V, một biến cố bi thảm xảy ra, khiến người Lamã và người Nhật Nhĩ Man thấy cần phải liên minh, đó là cuộc xâm lược của rợ Hung Nô.
Sử gia Lamã Ammianô Marcêllinô đã mô tả hình ảnh để đời của giống dân du mục này như sau: “Gian ác vượt xa tất cả những gì người ta có thể tượng tưởng được, thân thể lùn thấp, tay to tướng, đầu bự quá khổ, má đầy thẹo do chúng tự tạo ra để làm cho râu khỏi mọc, chúng là thú hay là người? Có tiếng đồn rằng: chúng là con đẻ của phù thuỷ và quỷ, suốt đời chúng sống trên lưng ngựa, hội họp, mua bán, ăn uống, ngủ trên lưng ngựa, chúng không cần cày bừa, không trồng trọt, không nhà cửa ổn định”. Đàn bà, trẻ con sống trong những cỗ xe đi theo binh đội. “Chúng không bao giờ nấu nướng và ăn thịt sống, chúng để sình nát dưới yên ngựa. Là binh sĩ giỏi: chúng phóng tên rất tài tình không ai bằng, trong những khoảng cách rất xa với những mũi tên nhọn bằng xương, cứng và giết người không kém gì sắt”. Nói cho ngay, những con “thú hai chân” này cũng có văn hoá: đồ đồng của chúng nghệ thuật duyên dáng kỳ lạ, đầy hiện thực và mơ mộng. Vào giữa thế kỷ V thì chúng đã tiếp xúc với thế giới văn minh từ lâu, chúng có chịu ảnh hưởng gì không? Priscos, nhà văn Hylạp từng tham quan doanh trại vua Hung Nô phải kinh ngạc vì sự xa hoa mà ông nhận thấy trong các lều gỗ dựng thành vòng tròn, nào thảm mềm, bồn tắm bằng đá, chén dĩa vàng bạc, rượu ngon, đồ ăn ngon, có cả ca sĩ và hề để quan khách giải trí… Văn minh Hung Nô đầy nghịch cảnh, trong những chòi mái rơm đầy tơ lụa tuyệt đẹp, trên những bộ đồ không ra hình thù gì, đầy hạt trai và đá quí vô giá…
Những quan hệ giữa họ và Đế Quốc Lamã không có gì là độc ác, nhiều lãnh tụ Hung Nô ham lương cao chấp nhận phục vụ như là trợ tá cho Đế Quốc. Stilicon đã thâu nhận cả một bộ lạc rợ Hồ. Những kẻ bảo vệ Thành này là da vàng, mặc áo da và lông thú mà binh sĩ Lamã vẫn giữ một khoảng cách xa xa vì hôi không chịu được , dân chúng vẫn thường thấy họ diễu hành ở các thủ đô Milanô, hoặc Ravenna…
Nhưng tất cả đều thay đổi, khi Attila xuất hiện.
Attila, được một tu sĩ xứ Gaule gắn cho biệt hiệu “chết tên” luôn, là “Roi Trời”, quả là một trong những nhân vật lạ lùng nhất thời đạivà có thể nhất thế giới nữa. Rất thông minh, một sự thông minh chính trị và ngoại giao hơn là quân sự, có thuật dùng người, biết khủng bố nhưng cũng biết khoan dung, quảng đại, kính trọng sự can đảm của người khác và quyền bính tinh thần, can đảm và mê tín, sống hết sức giản di trong một triều đình đầy vải vóc Ba Tư, đồ thêu Trung Quốc, sống khắc khổ hàng tháng, rồi thình lình thoải mái nơi tam cung lục viện là nơi mà ông đã sinh ra ít lắm cũng 60 hoàng tử!
Nguyên là con tin ở triều đình Đế Quốc Lamã, mặc dù còn trẻ, ông đã không để mình bị lây nhiễm khỏi thói hư tật xấu nhưng biết đánh giá sự yếu đuối và tìm ra những chỗ rạn nứt, ông học tiếng Latinh và nói thông thạo nhưng vẫn với giọng rợ Hồ, dĩ nhiên!
Năm 435, ông lên ngôi và làm đảo ngược tất cả chính sách Hung Nô. Các lãnh tụ Hung Nô phục vụ Lamã, bị coi là đào ngũ và đóng đinh, tạo ra giữa Đế Quốc và ông một sa mạc băng giá cách ba ngày đường để nền văn minh thối nát đừng hủ hoá dân ông! Rồi ông dùng vũ lực liên minh với các bộ lạc vàng và trắng trong lãnh thổ của ông, chuẩn bị thiết lập tại Âu Châu một Đế Quốc Á Châu thay thế Đế Quốc Lamã và từ đó chinh phục thế giới.
Năm 450, ông tấn công Đế Quốc Tây Phương với chiêu bài khá khôi hài: ngày xưa, một công chúa hoàng gia tên là Hônôria, 20 tuổi hoặc là hơi “mát”, hoặc là đã chán cảnh suy thoái ở triều đình, bị hình ảnh của ông hấp dẫn đã gửi cho ông một bức thư tình, lâm li thống thiết, mùi mẫn, xin kết hôn với ông kèm theo một chiếc nhẫn! Hồi đó Attila không trả lời. Bây giờ (năm 450) ông mới làm ra vẻ si tình nàng công chúa xa xăm, đòi triều đình Ravenna cho ông bàn tay người đẹp, với lại của hồi môn là … nửa Đế Quốc Tây Phương! Một mặt triều đình Ravenna vội vàng gả chồng cho nàng công chúa “mát” Hônôria si tình, một mặt dùng hết lời lẽ ngoại giao từ chối khéo người hùng Hung Nô. Và Attilia tấn công xứ Gaule vào năm sau (451).
Về cuộc tấn công của rợ Hung Nô vào xứ Gaule ta khó biết cho chính xác, vì người đương thời cho rằng nó trầm trọng hơn những cuộc xâm lược của người Nhật Nhĩ Man trước kia vô cùng, nên họ thường thổi phồng những cuộc tàn phá của “Roi Trời” kia lên! Trong nhiều hạnh các thánh, vì muốn đấng thánh ta cũng dây mình vào trong biến cố lịch sử này, nhiều tác giả đã cho quân Hung Nô có mặt ở những nơi thực sự chúng chẳng hề đặt chân tới, như Trêvia, Langres, Arras… Cần nhớ rằng: thảm kịch này cũng ngắn thôi: cuối tháng 3 (451) Attila vượt sông Rhin, hết mùa hè là rợ Hồ đã cuốn cờ mất tiêu. Về số quân cũng vậy, người ta phóng đại lên: 500, 600 ngàn kị binh với biển người đàn bà trẻ con đi theo, đường xá thời đó làm sao tiếp vận một khối người khủng lồ như thế? Nhưng dù sao, cuộc tiến công của quân mọi rợ hẩu lốn đủ mọi thứ bộ lạc, dưới quyền chỉ huy của Hung Nô vẫn là một nguy cơ trầm trọng đối với xứ Gaule. Thành Metz thất thủ đúng lễ Phục Sinh, 7/4/451. Trong khi Attila vây thành Orleans thì một đối thủ đáng nể xuất hiện vàngăn hắn lại.
Đối thủ đó là Aetius, tục gọi “Người Lamã cuối cùng”. Ông ta là con người Nhật Nhĩ Man, từng là chỉ huy trưởng kị binh và công tước Phi Châu, và một bà quí tộc Latinh. Trong số các nhân vât mọi rợ Aetius là người có kiến thức sâu xa nhất, vì hồi còn trẻ, ông từng bị bắt làm con tin ở triều đình Alaric, rồi triều đình Hung Nô. Ông phục vụ thái hậu Galla Placidia và Hoàng đế Valentinianô III, có nhiều chức tước cao trọng. Aetius là đối thủ duy nhất cũng cỡ Attila. Ông đến Ý vào tháng 5 với một ít binh đoàn, tập họp các bộ lạc mọi rợ, tạo thành mặt trận thống nhất da Trắng chống da Vàng. Ngày 23/6/451, lúc Orleans kiệt sức, sắp mở cửa thành cho quân da Vàng thì Aetius tới cửa thành, tổ chức phản công. Rợ Hồ đang cướp phá, hoảng hốt chạy về phía Champagne. Binh đội Lamã bèn rượt theo. Cuối tháng 8 xảy ra trận quyết định gần Troyes. Suốt một ngày, Á–Au đương đầu. Rợ Hồ bắn cung, binh đội Tây Phương chống lại bằng phương pháp cổ truyền của Lamã. Hôm sau, Attila bỏ đi. Văn minh Tây Phương được cứu vãn. Trận đánh này là một biến cố đảo lộn định mạng thế giới.
Năm 452, Attila trở lại tấn công nước Ý, nhưng sau một lời hứa triều cống, ông bỏ đi. Attila bây giờ già rồi không còn tự tin nữa. Ít lâu sau, hắn chết trong đêm … tân hôn! Vì gần 70 tuổi hắn còn “chôm” một thiếu nữ Nhật Nhĩ Man, đẹp kỳ diệu: người ta thấy ông nằm trên giường cưới, máu chảy ra miệng và mũi tùm lum. Và chính lúc đó, Hoàng đế Valentinianô tự tay ám sát Aetius: không bao giờ Hoàng Đế có thể tha cho ông cái tội cứu Đế Quốc!
Việc rợ Hung Nô xâm lăng Tây Phương đem lai kết quả cụ thể là quyết định tụ họp các sức mạnh của Tây Phương lại. Trong hành động quyết định số phận Tây Phương này, vai trò Giáo Hội rất lớn:
Giám Mục Aignan thành Orleans đã đến Arles thông báo tình hình với Aetius và ông đã tiến quân về Orleans…
Avitô, Hoàng đế tương lai, Giám Mục tương lai, đã thương thuyết đem quân Tây Gốt gia nhập liên minh.
Người ta có cảm tưởng rằng sau lưng Aetius và binh đội của ông, là sức mạnh của Giáo Hội. Nhiều giai thoại cho thấy Attia bị các thánh chặn lại.
Thánh Loupus, Giám Mục Troyes khiến Attia quyết định không cướp thành này.
Giám Mục Aignan thành Orleans là linh hồn của cuộc tự vệ, có giá trị tiêu biểu.
Thánh nữ Gênêviêva: cô bé chăn chiên đầy Đức tin mà thánh Germanô thành Auxerre đã gặp, người nữ tu anh hùng, ở “mũi tàu” “đảo của thành” (Paris) đã đương đầu với sự hốt hoảng của người đời và từ chối bỏ mặc thành của người Paris cho rợ Hồ: “Đàn ông cứ việc bỏ trốn, nếu họ muốn, nếu họ không còn khả năng chiến đấu nữa, chúng tôi, phụ nữ, chúng tôi sẽ cầu nguyện thật nhiều, sao cho Thiên Chúa nghe lời chúng tôi cầu xin!” và Attila đã không hề tấn công Paris. Về sau, trong suốt cuộc đời dài lâu của người , người là vị lãnh đạo tinh thần của thành Lutêcia. Chính bà đã cho xây một nhà thờ kính thánh Đêni và khi về già, bà đã không do dự đi tìm lương thực cho đồng bào của bà đang bị nạn đói đe doạ, bà là bạn của vua Clovis và hoàng hậu Clotilda, cả một đời bình an, hầu như lu mờ trước giai thoại chói ngời ánh sáng năm 451: Giáo Hội đẩy lui quân mọi rợ bằng lời cầu nguyện, không phải là một hình ảnh vẽ vời mà là một chân lý lịch sử.
9. Thánh Lêô Cả và Giáo Hoàng Chế
Đức Lêô Cả và Attia
Tháng 8/452, Attila trở lại Tây Phương. Lần này ông tiến công nước Ý, quét sạch Bắc Ý, phân tán dân chúng (vì thế người Vênêtô mới tị nạn qua các đảo và mới nảy sinh ra thành Vênêzia) phá hải cảng Aquilê. Trriều đình sợ quá bỏ Ravenna rút về Rôma. Người ta không còn tin vào Aetius nữa. Hết hi vọng! Trong khi đó, các cố vấn da trắng của kẻ xâm lược là Oreste, người Lamã và Onégèse người Hylạp, thúc đẩy Attila tiến công Rôma. Gần tới Rôma (ở Minciô) Attila thấy, trong một đám mây bụi vàng, một đám rước kỳ lạ đang tiến lên. Các linh mục Kitô giáo mặc áo lễ, các tu sĩ mặc áo dòng, một đám đông phó tế và ca đoàn mang thánh giá, cớ phướn, lắc các bình hương vàng lóng lánh dưới ánh mặt trời, chầm chậm tiến đến đón ông trong tiếng hát thánh thi và thánh vịnh trầm bổng, đối đáp. Giữa đám rước là một cụ già, râu bạc ngồi trên lưng ngựa cầu nguyện. Attila phóng ngựa về phía dòng sông, cho ngựa bước xuống sông và dừng lại trên một cồn cát. Đoàn đại biểu kỳ lạ đợi ở bờ sông bên kia. Attila hét to hỏi cụ già: “Tên ông là gì? –Lêô Giáo Hoàng”. Tiếng hát ngừng bặt. Attila do dự, rồi lại cho ngựa bước xuống nước, tới bờ sông. Và Đức Giáo Hoàng đến trước mặt ông… Đó là hình ảnh đầy sức thu hút, đập mạnh vào trí tưởng tượng của dân chúng, tóm tắt–hơi ngắn–sự nghiệp thánh Lêô Cả Giáo Hoàng (440–461).
Trong khi mọi hi vọng đều tiêu tan, Hoàng đế Valentinianô III đã trao cho Đức Lêô sứ mạng điều đình, mong ngăn chặn cuộc xâm lăng da vàng. Người của Thiên Chúa đã thành công: Attila rút quân, đổi lấy việc triều cống. Người ta không biết Đức Lêô đã lấy lý lẽ gì để thuyết phục Attila mê tín? Người có nhắc lại số phận thê thảm của Alaric, sau khi xúc phạm đến Thành không? Người đương thời bảo rằng: năm ngoái Đức Giám Mục Loupus (sói) đã thành công ở Troyes, năm nay uy tín của Đức Giáo Hoàng Lêô (Sư Tử) thành Rôma cũng không kém! Thực tế không ai biết được cuộc đối thoại giữa hai nhân vật ấy bao giờ. Chỉ biết, sau khi hoàn thành sứ mạng trao phó, Đức Lêô trở lại gặp Hoàng đế Valentinianô III, người đã nói: “Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã cứu chúng ta khỏi cảnh nguy khốn lớn”. Nhưng huyền thoại lại muốn rằng, trong khi Đức Lêô nói với Attila thì ông ta thấy sau lưng người một người mặc áo trắng như một linh mục cầm gươm doạ ông. Có người bảo nhân vật ấy là một thiên sứ, người khác nói là thánh Phêrô, người khác nữa lại cho là thánh Phaolô. Huyền thoại này người đương thời hoàn toàn không hay biết, nó chỉ xuất hiện vào thế kỷ IX–X và đến thế kỷ XIII được Giacôbê đệ Vôraginô ghi vào Huyền Thoại Vàng. Chính huyền thoại này đã cảm hứng Raphaêlô vẽ bức hoạ nổi tiếng ở Vaticanô.
Giai thoại này có tầm quan trọng to lớn vì nó phi bác lời rêu rao của lương dân cho rằng chính việc phế bỏ các lễ nghi cổ truyền là nguyên nhân các thất bại của Đế Quốc. Lý lẽ này bị thánh Âu Tinh bác bỏ trong Thành Trì Thiên Chúa, còn Đức Lêô bằng hành động. Một cách gián tiếp Attila đã đóng góp, có khi còn hơn bất cứ nhân vật lịch sử nào, vào việc tạo ra một nhân tố chính trị quan trọng là Đức Giáo Hoàng: vua thành Rôma.
Các Giáo Hoàng Đầu Thế Kỷ V
Ngai Giáo Hoàng Lamã, ngay từ những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã công nhận tính ưu việt vì truyền thống cổ xưa nối liền nguồn gốc của nó với thánh Phêrô. Từ năm 106, thánh I-Nhã thành Antiôkia đã nói đến với một sự cung kính đặc biệt. Tông Toà ngày càng ý thức thượng quyền của mình về các vấn đề kỷ luật và tín lý, đã biến Rôma thành thủ đô thế giới Kitô giáo. Những tiến bộ trong bốn thế kỷ đầu của Giáo Hoàng chỉ là những nhân vật mờ nhạt trong lịch sử mà thôi. Vào giờ phút nghiêm trọng, đầu thế kỷ V, lúc mà nền văn minh trượt xuống vực thẳm, ngai Giáo Hoàng đã trở nên rất quan trọng. Thánh Ambrôsiô viết: “Phêrô ở đâu, Giáo Hội ở đó” và thánh Âu Tinh: “Rôma lên tiếng, vấn đề đã xong”.
Giáo Hội, sức đề kháng duy nhất đã có lãnh tụ. Đây là danh sách các vị trước Đức Lêô trong thế kỷ V:
-Thánh Anastasiô I (398–401).
-Thánh Innôcentê I (401–418), vị Giáo Hoàng đã dám bảo vệ thánh Gioan Kim Khẩu, chống các bạo chúa Byzancia, đã thử hoà giải Alaric và Hônoriô để ngăn thảm họa, đã đương đầu với bè rối Pêlagiô.
-Thánh Zôzimô (417–418).
-Nguỵ Giáo Hoàng Eulaliô.
-Thánh Bônafaciô I (419–422).
-Thánh Cêlestinô I (422–432) ý thức rất cao vai trò của người, người đã truyền xác nhận một cách long trọng quyền khiếu nại của tất cả mọi tín hữu với Rôma, cử thánh Patriciô đi Tin Mừng hoá xứ Ai Nhĩ Lan, kết án Nestoriô, bất chấp Hoàng đế Đông Phương ThêôđônôsôII.
-Thánh Sixtô III (432–440) đã trang hoàng lộng lẫy Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả.
-Thánh Lêô Cả (440–461)
Thánh Lêô Cả Giáo Hoàng
Thánh Lêô sinh tại Toscana nhưng đã đến Rôma rất sớm, người gọi “Kinh Thành Muôn Thuở” là “Tổ Quốc của ta”. Do dòng dõi, do nền giáo dục của người, Đức Lêô đúng là người Lamã. Nhập hàng giáo sĩ rất sớm, nhờ nhân đức, thông minh và cá tính, người đã tạo được uy tín rất nhanh. Khi còn là thầy “cầm đèn” (Trợ Đăng), người đã được Đức Sixtô III–vị Giáo Hoàng tương lai, trao phó một sứ mạng tin cẩn bên cạnh thánh Âu Tinh. Năm 430 là Tổng Phó Tế Rôma, người nổi tiếng đến nỗi tu sĩ Cassianô thành Marseille gọi người là “món trang sức của Giáo Hội Lamã và của thừa tác vụ thánh”, nhiều nhân vật hàng đầu vẫn đều đặn thư từ với người. Chính người là đấng đã báo động với giáo quyền chống lại tư tưởng của Giulianô thành Eclanô, kẻ nối tiếp bè rối Pêlagiô: Là cố vấn các Giáo Hoàng Cêlestinô I và Sixtô III, nhiều lần người được cử đi sứ về ngoại giao và tôn giáo. Người đang đi sứ tại Gaule thì Đức Giáo Hoàng Sixtô III qua đời và mặc dù vắng mặt, thầy Tổng Phó Tế Lêô được các tín hữu Lamã bầu lên kế vị. Lễ tấn tôn được cử hành ngày 29/9/440. lúc đó người khoảng 40–50 tuổi.
Tình thế lúc đó rất quan trọng.
Ở Tây Phương, Valentinianô III chỉ là một thanh niên 20 tuổi, chỉ có sức mạnh để hưởng lạc, việc triều chính trao vào tay mẹ là Galla Placidia, là người có phẩm chất trang nghiêm của một vị lãnh đạo nhưng lại có thần kinh bất ổn của một người đàn bà, và để đương đầu với quân mọi rợ từ 35 năm nay đã xâm nhập Đế Quốc chỉ trông vào nghị lực của tướng Aetius mà triều đình vẫn nghi ngờ,
Ở Đông Phương Thêôđôsô III bảo vệ lạc giáo.
Thánh Lêô có một ý thức rất cao về sứ mạng đã trao phó cho người. Đó là sự nghiệp của vị thủ Lãnh các Tông Đồ mà người phải theo đuổi. Đầu óc người rõ ràng, chính xác, có phương pháp, có khả năng tìm ra giải pháp cho những vấn đề phức tạp mhất. Cá tính người kiên cường, bình an, quảng đại, bác ái, tất cả dựa trên đức khiêm nhường. Người nói: “Đừng phán đoán sản nghiệp trên sự bất xứng của kẻ thừa kế”.
Cũng như nhiều lãnh tụ Kitô giáo trước người, Đức Lêô cảm thấy nguy cho Giáo Hội nếu để số phận mình gắn liền với số phận của thế giới bị đe doạ và trước mặt thế quyền, người khẳng định quyền bính của Giáo Hội Đức Kitô.
Anh hưởng chính trị của người rất lớn:
-Galla Placidia nghe lời người.
-Valentinianô III kính trọng người nhưng hơi gờm! Khi người ta tới tìm người xin người đi hương thuyết với Attila, người đã do dự, e rằng vượt khỏi vai trò mình.
-Đối với Thêôđôsô II, người nói bằng một giọng trất quả quyết.
-Marcianô là bạn người.
-Khi Hoàng đế Lêô I ho he. Đức Giáo Hoàng không ngần ngại dùng quyền của mình để mà nắm ông ta lại một cách cương quyết.
Trong Giáo Hội, vai trò của người càng lớn. Ở Rôma người thường ra khỏi điện Latêranô, để lo đến những cảnh khốn cùng công cộng, dựng lại những đổ nát, đào bới các Hang Toại Đạo, phân phát thóc lúa khi có nạn đói. Ở Ý, người lo hàng ngàn việc: đòi các ứng viên Giám Mục phải có đủ điều kiện, quản trị tài sản Giáo Hội, định ngày Rửa Tội, quan hệ với người mọi rợ.
Tại các tỉnh xa, người ta vẫn thấy ảnh hưởng của người. Một số Giám Mục hơi độc lập tự do quá liền được người mời–hơi cứng–trở lại trật tự, ổn định chỗ ngồi, như thánh Hilarô thành Arles, Giám Mục thành Thessalônica…; Thượng phụ Constantinôpôli tỏ ra có những tham vọng khả dĩ đe doạ thượng quyền Lamã liền bị Đức Lêô phản đối, dù vị này dựa hơi một công đồng và vào Hoàng đế của mình. Người rất cương quyết với các Bè Rối, chống đối không biết mệt. Không một vấn đề lớn nhỏ nào liên quan đến Giáo Hội mà Người không xem xét. – Thí dụ: người đã can thiệp vào việc mừng lễ Phục Sinh, bị lộn xộn trở lại, công đồng Nicêa đã chấm dứt cuộc tranh chấp về việc này bằng cách kết án vĩnh viễn những người chủ trương mừng lễ Phục Sinh chung với lễ Vượt Qua của người Do Thái ngày 14 tháng Nisan và đã ấn định lễ này vào Chúa Nhật sau trăng tròn tháng Ba (dương lịch). Giáo phận Alexanđria được phân công phụ trách ghi nhận quyết định này. Giữa thế kỷ V, đó đây người ta bắt đầu hoài nghi về cách tính toán của người Alexanđria. Thánh Lêô đã cắt đứt việc này bằng cách giữ nguyên các quyết định và cách tính toán của người Alexanđria. Bằng những hoạt động có tính cách phổ quát như vậy, thánh Lêô đã đảm bảo vĩnh viễn ý tưởng về thượng quyền của Tông Toà, người là “Người Tổ Chức Giáo Hoàng Chế Lịch Sử”. Trong một bức thư đề ngày 10/ 8/446 gửi các Giám Mục Phi Châu, người viết: “Rôma ban những lời giải đáp cho các trường hợp mà người ta trình lên, những lời giải đáp ấy là những phán quyết…”. Ngôn ngữ của Bề Trên lần đầu tiên trong lịch sử Kitô giáo người ta được nghe!
Sự nghiệp Văn Học của thánh Lêô rất lớn. Ngày nay người ta còn thích đọc các bài giảng của người ít nữa là một phần. Thư từ gồm 173 bức đầy các chi tiết quan trọng về việc cai trị Giáo Hội và các vấn đề Kitô giáo thời đại. Các tác phẩm dù thiếu cơ sở triết học và văn hoá (người không biết tiếng Hylạp) nhưng rất hay, như Quyển gửi Flavianô quan trọng về tín lý. Có lẽ do ảnh hưởng của người, người ta đã soạn thảo cuốn Sách Lễ đầu tiên, sách này vào thế kỷ sau được soạn thảo lại nhiều ít nhưng vẫn được gọi là Sách Các Phép của thánh Lêô.
Năm 455, rợ Vandale đổ bộ lên nước Ý và chiếm Rôma. Hoàn toàn vô chính phủ. Valentinianô, đến phiên ông ta bị giết bởi tay người phục thù cho Aetius. Pêtrôniô Maximô lên thay thế cũng bị nhân dân phẫn nộ, băm vằm! Duy có Đức Lêô đương đầu, đứng mũi chịu sào! Nhờ lời người khẩn khoản, Gensêricô không đốt Thành, không tra tấn dân chúng, nhưng người không thể cản được 14 ngày cướp phá…
Ngày 10/11/461, vị đại Giáo Hoàng qua đời. Người ta chôn người tại tiền đường Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô. Năm 668, Đức Sergiô I dựng bia mộ người, đã viết: “Người vẫn còn canh thức, kẻo chó sói hằng luôn rình rập, xông vào cắn xé đoàn chiên”. Người ta thường bảo: người là vị Giáo Hoàng của Thế Giới cũ, nhưng người cũng là vị Giáo Hoàng Cứu Vãn nhờ nghị lực và Đức Tin, người đã cứu được những gì còn có thể cứu được và chuẩn bị Giáo Hội cho những cố gắng của ngày mai.
10. Ngày tàn của Đế Quốc Tây Lamã
Đế Quốc Tây Lamã sụp đổ
Ngày 21/9/454, Hoàng đế Valentinianô III tự tay cắt cổ Aetius. Cái chết của “Người Lamã cuối cùng” này báo hiệu ngày tàn, nhưng Đế Quốc còn 20 năm nữa, trong thời gian đó, ám sát là phương châm:
Valentinianô III bị ám sát vào tháng 3 năm sau (455).
Pêtrôniô Maximô đổsau vài tuần.
Euđôxia, goá phụ của Valentinianô III kêu gọi Gensêric và rợ Vandale của hắn sang Ý, rồi lộn xộn rút lui cùng với chiến lợi phẩm chúng vừa cướp bóc được ở Rôma.
Ricimêrô, rợ Suève, tổng tư lệnh quân lực đứng lên làm chủ: Hoàng đế Avitô bại trận vội vàng thoái vị và lật đật gia nhập hàng Giáo phẩm. Hoàng đế Magiôrianô chống lại liền bị giết, chết tốt! Ricimêrô phong làm Hoàng đế các người được hắn bảo vệ: Sêvêrô, Anthêmiô những Hoàng Đế bù nhìn này cứ tưởng mình là Hoàng Đế thật, liền bị loại! Ricimêrô chết năm 472, ít lâu sau Olybriô, Hoàng đế do hắn dựng lên cũng chết theo.
Tân Tổng Tư lệng quân lực, người bảo vệ tối cao của thành Rôma không ai khác hơn là… Oreste, người Lamã đã phản bội Rôma, làm bí thư cho Attila và xúi rợ Hung Nô tiến công nước Ý! Sau khi thanh toán nhiều bù nhìn mới, hắn dự định làm một cú ngoạn mục mà Stilicon, Aetius, Ricimerô không một ai dám làm, là suy tôn con hắn lên làm Hoàng đế! Đó là Romulus Augustulê (475) có cái tên gồm tóm tất cả lịch sử vĩ đại của Rôma! Về cái bóng mờ này, người ta chỉ khen là “Hắn đẹp trai”…
Trong khi đó Đế Quốc tan rã nhanh chóng.
Rợ Anglô và Saxonia định cư ở Anh.
Rợ Vandale ở Phi Châu cai trị bằng khủng bố.
Rợ Burgonde ở từ Lyon tới Genêva.
Rợ Tây Gốt, rợ Franc ở xứ Gaule…
Trước cảnh vô chính phủ đó, linh đánh thuê Nhật Nhĩ Man ở Ý đòi hỏi người ta phải cho chúng làm chủ đất như rợ Gốt, Burgonde, Franc ở Gaule thay vì cứ “làm khách” mãi. Oreste từ chối. Thế là chúng nổi loạn suy tôn Ođôacrô (rợ Skirô) bắt luôn Oreste, nhốt cậu bé Romulus Augustule, vị Hoàng đế cuối cùng trong một biệt thự gần Napôli. Đế Quốc Tây Phương đã bị xoá bỏ. Đó là ngày 4/9/476.
Ođôrac vẫn còn trọng hình thức, vẫn bị các hình ảnh của sự vĩ đại mà hắn vừa đập tan, khống chế, bèn cẩn thận gói các huy hiệu Đế Quốc gửi lên Hoàng đế Đông Phương ở Constantinôpôli và xin người ban tước “Patrice” thôi. Hoàng đế Zênôn không ban và cũng không từ chối. Và trong khi Ođôacrô làm chủ nước Ý suốt 13 năm thì người mọi rợ hoàn chỉnh việc định cư trên khắp Đế Quốc.
Năm 489, khi quân Đông Gốt của Thêôđôric đổ bộ lên nước Ý thì đó là màn chót của thảm kịch đã diễn ra từ đầu thế kỷ. Không còn Tây Phương nữa, không còn Âu Châu nữa, không còn sự thống nhất Lamã nữa, một bức khảm sà vằn sà và các quốc gia mọi rợ đã thay chỗ Đế Quốc!
Tuy nhiên vẫn còn một nguyên lý hiệp nhất, đó là Giáo Hội. Giáo Hội vẫn luôn hoạt động: chống rợ Tây Gốt với Giám Mục Apôllinariô; đương đầu với quân Vandale gian ác ở Phi Châu, tranh thủ các linh hồn, huấn luyện người để lãnh đạo, để quản lý Giáo Hội qua các Giáo Hoàng, tiếp tục sự nghiệp thánh Lêô.
Các Giáo Hoàng cuối thế kỷ V
Năm vị Giáo Hoàng kể từ khi Đức Lêô qua đời tới cuối thế kỷ không vị nào bằng thánh nhân nhưng tất cả đếu ý thức sâu sắc về sứ mạng của mình:
1/ Thánh Hilariô (461–468) xây dựng lại những đổ nát do rợ Vadale để lại.
2/ Thánh Simpliciô (468–483) khiến Ođôacrô phải kính nể, chống lại bè rối ở Đông Phương, chống khuynh hướng tự trị của Constantinôpôli, Giáo Hoàng của thời Tây Phương sụp đổ (476) người đã chiếm được tư thế mạnh hơn bao giờ hết.
3/ Thánh Fêlix III (483–492) mặc dù do Ođôacrô đẩy lên và là bạn của Hoàng đế Đông Phương Zênôn nhưng không bao giờ người để cho những vị đó khống chế, trái lại còn hãnh diện đòi “Giáo Hội có quyền tiến triển theo luật riêng của mình”.
4/ Thánh Giêlasô I (492–496) thông minh và nghị lực khiến người đương thời phải nể phục, được người ta ca tụng về Bác Ai, việc xã hội, bảo vệ người nghèo yếu. Bossuet nói: “không ai đã nói về sự vĩ đại của Toà trên đó các Đức Giáo Hoàng ngự một cách vẻ vang hơn người”. Chính người đã viết cho Hoàng đế: “Hãy biết rõ điều này: khi Toà Thánh Phêrô đã tuyên phán thì không ai được phép xét đoán phán quyết của Toà ấy”.
5/ Thánh Anastasiô II (496–498) đôi khi bị tố cáo là quá yếu đối với người rối đạo Đông Phương (vì thế, Dante đã dành cho người một chỗ ở dưới … hoả ngục!): vào lúc vấn đề quyết định với Tây Phương Công Giáo được đặt ra, là đón nhận người mọi rợ, làm cho họ thành người của mình, thánh Anastasiô II đã dựa sự hiệp nhất Kitô giáo vào Byzancia.
Tình Hình Tây Phương Cuối Thế Kỷ V
-Về vật chất: hình thành một bức khảm các quốc gia mọi rợ:
Ý: Thêôđôric, lãnh tụ Đông Gốt sau 4 năm chiến đấu đã đập tan phe Ođôacrô và làm chủ tình hình chẳng những cả nước Ý mà cả đảo Sicilia, Dalmatia và một phần Pannonia nữa.
Phi Châu, Sardina, Corsia: rợ Vandale hoàng hành.
Gaule và Tây Ban Nha: rợ Tây Gốt, Burgonde, Franc, Breton . Rợ Franc có một vị vua nổi tiếng là Clovis cai trị từ năm 481.
Anh: rợ Anglô, Jute và Saxônia (từ Đan Mạch Tới).
-Về tinh thần: không phải tất cả đều đã hư mất. Trong sự sụp đổ của Tây Phương còn sót lại vài điều:
1) Hình ảnh Đế Quốc vĩ đại mà uy tín không dễ gì biến ngay được. Tây Phương không còn Hoàng đế nữa (trừ một thời gian ngắn trong thế kỷ VI) cho tới thời Carôlô Cả. Tuy nhiên, Hoàng đế chỉ biến mất trên thực tế thôi chứ vẫn còn về mặt pháp lý. Các lãnh tụ mọi rợ-trừ Vandale và Anglô -đều lấy làm vinh dự được mang chức tước của công chức và binh đội Lamã. Ngày vĩ đại nhất đời Clovis là ngày ông được Hoàng đế Đông Phương xa lắc la lơ phong cho chức Tổng Tài. Tất cả dân tộc Nhật Nhĩ Man đều sáp nhập vào các định chế Lamã, chấp nhận guồng máy của nó, ngay cả rợ Vandale cũng tìm cách chiếm guồng máy đẹp đẽ kia hơn là phá huỷ nó.
2) 2) Lý tưởng thống nhất có từ hoàng kim thời đại Rôma vẫn còn sót lại sau khi Đế Quốc Tây Phương sụp đổ. Năm 417, Rutilius Numatianus, người xứ Gaule còn ca tụng: “Hỡi Rôma, từ muôn quốc gia ngươi đã tạo thành một tổ quốc duy nhất và từ cả thế giới chỉ có một Thành”. Người ta vẫn còn luyến tiếc thời oanh liệt Đông, Tây Phương còn là một. Tất cả đều thúc đẩy người đương thời ngoại cũng như đạo lý tưởng hoá các hình ảnh vĩ đại kia.
Thế là tư tưởng của thánh Âu Tinh về việc giáo quyền cần kiểm soát chính quyền được người sau như Orôsiô, thánh Lêô Cả nối tiếp, cho rằng: Đế Quốc không thể biến mất được. Bốn thế kỷ sau vào đêm Giáng Sinh 800, khi Đức Giáo Hoàng đặt triều thiên lên đầu Carôlô Cả và 200 năm sau nữa, khoảng năm 1000, trên các Hoàng đế Othôn, Henricô, của “Thánh Đế Quốc Lamã Nhật Nhĩ Man” các vị này đều là những đấng kế thừa các Hoàng đế Constantinô, Thêôđôsô, Giustinianô…(Xét về mặt luật hiến pháp thì khai tử của Đế Quốc Tây Phương đề ngày 6/8/1806, khi Hoàng đế Phanxicô II thua Nã Phá Luân phải từ bỏ tước hiệu Hoàng đế Lamã của các quốc gia Nhật Nhĩ Man, chỉ giữ lấy tước hiệu Hoàng đế nước Ao mà thôi).
Vì Đế Quốc không thể biến mất, phải sáp nhập những người mới tới vào nó, như tháp cành vào cây. Chỉ Giáo Hội từ nay là thân cây đó có thể làm công việc này. Nhưng trước hết phải giải quyết một cản trở nghiêm trọng đã.
11. Rợ Gốt theo lạc giáo Ariô và người Lamã Công Giáo
Khi người mọi rợ định cư trong Đế Quốc thì phần lớn họ đã có đạo, nhưng là đạo rối Ariô. Vào thế kỷ IV, trong Kitô giáo đã dấy lên một bè rối do một linh mục người Alexanđria tên là Ariô chủ trương. Bè này chối bỏ thần tính Đức Kitô và đã bị Công đồng Nicêa năm 325 kết án. Bị xua đuổi trong Đế Quốc, bè rối này đã gieo mầm lầm lạc trong các bộ lạc người Gốt trú đóng trong Đế Quốc Đông Phương và vùng biên giới.
Việc người Gốt theo bè rối Ariô là do một nhân vật có cái tên Hylạp hoá là Ulfila, gốc Nhật Nhĩ Man nhưng tổ tiên ông sống ở Cappadocia Công Giáo. Được giáo dục trong Công Giáo có chức “Độc Thư” khi còn rất trẻ, vì Ulfila có trình độ. Ông ta theo bè rối Ariô khi lưu trú tại Constantinôpôli và được Giám Mục Eusêbiô, một chức sắc thân Ariô phong làm Giám Mục, trở về xứ người Gốt, Ulfila ra sức làm cho những người anh em đồng chủng của ông ta trở lại Kitô giáo, rối đạo, dĩ nhiên! Ông bày ra một loại mẫu tự mới và dịch Kinh Thánh ra tiếng Gốt. Phụng vụ được cử hành bằng tiếng Gốt. Giáo lý Kitô giáo được giản dị hoá, loại bỏ các tín điều. Từ luân lý của Tin mừng, ông rút ra những nhân đức mà những người võ biền dễ cảm nhận, như mạnh mẽ, nghị lực, can đảm, anh hùng… Phụng vụ mang phong cách mới, có sức nâng tâm hồn thần bi của các anh linh chiến: lễ nửa đêm ngoài trời trong đó tiếng hát của các ca đoàn Nhật Nhĩ Man bay lên hoà với khói mù của ánh đuốc đỏ rực…
Thứ Kitô giáo này được phổ biến hết sức nhanh chóng. Người Tây Gốt trở lại (376), Alari chiếm miền Illyria (399), dẫn theo cả một hàng giáo sĩ Ariô! Do người Tây Gốt Kitô giáo rối đạo thấm nhập vào các dân sống dưới quyền rợ Hung Nô, như Gépides, Herules, Vandale, Đông Gốt. Ngoại trừ rợ Franc và Anglô Saxônia vẫn còn ngoại giáo, có thể nói tất cả các dân tộc mọi rợ vào Đế Quốc trong thế kỷ V đều theo bè rối Ariô cho tới những người tới cuối cùng là rợ Skirô và Rugianô của Ođôacrô, rợ Đông Gốt của Thêôđôric.
Giáo Hội Công Giáo chống lại sự bành trướng này.
Thánh Gioan Kim Khẩu gửi thừa sai đến các bộ lạc Gốt Công Giáo , cho phép họ cầu nguyện bằng tiếng Gốt để khỏi thua kém bè rối. Kết quả tốt, bởi vì nơi người Đông Gốt người ta thấy có những nhân tố Công Giáo như bà mẹ của Thêôđôric.
Thêôtimô đệ Tômi cố gắng duy trì công tác Bác Ai nhân danh Giáo Hội Công Giáo Lamã trong những vùng rợ Hung Nô chiếm đóng.
Nicêtas đệ Rêmisiana (tác giả kinh Te Deum) trong suốt đời Giám Mục rất dài (366–415) ở vùng Hạ Dacia(nay là Serbia) đã đưa các bộ lạc mọi rợ ở vùng này vào Giáo Hội Công Giáo lập cả mấy Đan Viện cho người mọi rợ nữa.
Thánh Sêvêrinô, một nhân vật Lamã cỡ bự, năm 450 đã trở thành tu sĩ ngay trên xứ mọi rợ (trên sông Danube gần Vienna, Ao) và lập tại đó một tu viện. Người rất có uy tín đối với người Nhật Nhĩ Man theo bè rối, đã ngăn chặn nữ hoàng Gisô của người Rugianô áp đặt phép Rửa rối đạo lên người Công Giáo trong xứ và khi Ođôacrô chiếm nước Ý, hắn đã viết cho người xin người chọn một ân huệ để hắn ban cho tức khắc. Thánh nhân qua đời năm 482, đầy uy tín.
Tuy nhiên, việc người mọi rợ theo bè rối cũng có một số hậu quả tốt: - các lãnh tụ Nhật Nhĩ Man cảm thấy mình là Kitô hữu đã tôn trọng các nhà thờ, các đồ thánh, các thánh tích. Đó là thái độ của Alaricô và binh đội của ông. Sử gia Orôsiô kể rằng: trong khi chiếm Rôma, một người Gốt đã phát hiện ra các bình quý của Vương Cung Thánh Đường, vị nữ tu (trinh nữ đã hiến thánh) giữ kho thánh nói với hắn rằng: dĩ nhiên chị không thể cản hắn lấy các bình ấy được nhưng thánh Phêrô thì rất biết cách bảo vệ tài sản của người. Vị binh sĩ kia lo lắng, về tham khảo ý kiến cấp trên và Alaricô đã ra lệnh rằng toàn bộ những đồ đẹp đẽ, quý giá kia phải được trả lại nơi thánh dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt. Và người ta thấy trên đường phố Rôma một đám rước lạ lùng gồm linh mục Lamã, tín hữu và người mọi rợ theo sau các bình thánh, đồng thanh ca hát!….
Nhưng phải thú nhận rằng trong nhiều trường hợp khác kết quả không thơ mộng thế đâu! Thường thì sự cuồng tín tôn giáo của những Kitô hữu còn tươi và thô kia, kết hợp với sự tham lam thèm muốn đã dẫn đến bạo động, nhờ các linh mục Ariô thúc đẩy, với sự nhiệt tình của tân tòng mọi rợ. Ở Eleusis các vị tuyên uý của các băng Tây Gốt hăng hái làm thừa tác vụ, trong khi binh sĩ của họ cướp phá các kho thánh, gây ra những tổn thất về tác phẩm nghệ thuật đáng tiếc!
Tín ngưỡng Ariô nơi quân xâm lược, khi chúng định cư ở Tây Phương đã trở thành một nhân tố quan trọng để xác nhận quốc tịch và phân biệt với người Lamã. Đế Quốc Kitô giáo đã đồng hoá người mọi rợ dễ dàng hơn nhiều nếu như không có cái trở ngại cuồng tín nơi tôn giáo kia.
Quan hệ giữa người Công Giáo và người rối đạo: tại nhiều nơi, quân mọi rợ chiếm các nhà thờ để làm nhà thờ cho binh sĩ Ariô. Nhiều linh mục sau khi dùng bữa với người Ariô liền bị tuyệt thông. Quân chiếm đóng, để tự vệ đã công bố những bộ luật cấm theo Công Giáo, cấm tín hữu Rôma xây nhà thờ. Siđôinô Apôllinariô để lại một bức tranh về tình trạng các cộng đồng Công Giáo ở xứ Gaule do người Tây Gốt chiếm đóng, trong đó nhà thờ thì bê bối, hàng giáo sĩ thì bị chặt đầu và ông không giấu giếm những ý nghĩ của mình về rợ Gốt: chống đối bất lực, chờ thời! Chúng ta phải có trong đầu cái tâm lý của hàng giáo sĩ Công Giáo trong các xứ bị người mọi rợ Ariô chiếm đóng thì mới hiểu được tầm quan trọng của sự ủng hộ mà Giáo Hội ban cho ông ngoại giáo Clôvis.
Nói chung, lạc giáo Ariô nơi người mọi rợ không phải là một sức mạnh thực tế. Nó chỉ dựa vào vũ khí của các lãnh tụ Gốt, Vandale, Burgonde, chứ còn quyền bính tinh thần thì rất ít! Hàng giáo sĩ Ariô bị cắt đứt với các truyền thống Kitô giáo cao nhất và với các giáo phụ, vì họ không biết cổ ngữ, họ chỉ là một bầy ngu xuẩn dốt nát! Nơi bè rối Ariô không có gì có thể địch nổi các Đan Viện Công Giáo, là những trung tâm Văn Hoá và tinh thần, người của họ không sao địch nổi các Giám Mục trung thành với Roma- Giáo Hội Công Giáo trái lại dựa vào nhân dân địa phương chứ không vào một dúm người chiếm đóng nên vẫn giữ được quyền bính, ngay cả khi chính quyền nằm trong tay tín đồ Ariô. Chính vì thế mà chỉ Giáo Hội mới tìm ra biện pháp giải quyết vấn đề cơ bản là tổng hợp những gì còn lại của trật tự cũ với người mọi rợ, nhân tố của trật tự mới.
12. Giải pháp Vandale và giải pháp Đông Gốt đều thất bại
Để tái lập sự thống nhất Tây Phương bị xâu xé bởi sự xâm nhập, chiếm đóng và ly khai tôn giáo, ba giải pháp được đề ra:
Giải pháp I: quyết liệt nhất, nhằm bứng tận gốc Lamã chế (Romanité) chỉ giữ lại những khung hành chánh cần thiết để bảo đảm sự thống trị của kẻ chiến thắng, đối xử với người bại trận như nô lệ, mọi rợ hoá bằng khủng bố. Giải pháp này được rợ Vandale áp dụng ở Phi Châu.
Gensêric (431-477) vừa lùn, vừa thọt, khi vừa chiếm được Phi Châu đã làm như Đế Quốc không còn nữa, hắn cho cào các pháo đài của binh đội Lamã, xua đuổi những người bị nghi là còn trung thành với Rôma, công khai cắt đứt quan hệ với Hoàng đế tiếm vị Pétrôniô Maximô với lý do là người như hắn không thể thần phục một kẻ giết người! Hắn mở rộng Đế Quốc mới của hắn tới các đảo Sicilia, Sardinia và Corsiô, hắn có quyền uy đến nỗi Hoàng đế Đông Phương Zênôn phải nhìn nhận hắn đôc lập năm 476.
Tư tưởng Gensêric rất rõ ràng. Điều hắn muốn là với vài trăm ngàn quân Vandale, hắn tạo ra một giai cấp thống trị, khai thác Phi Châu và thống trị các dân tộc bại trận mà không dây với họ. Luật cấm người Vandale lấy dân địa phương rất nghiêm túc, vi phạm là tử hình. Quan hệ giản dị nhất cũng bị coi là khả nghi. Trên bình diện tôn giáo, đúng là bách hại! Gensêric quyết định hắn và người của hắn là Kitô hữu Ariô, sẽ áp dụng cho người Công Giáo chính những hình phạt mà các Hoàng đế Công Giáo đã ban hành chống lại người Ariô. Công chức được lệnh tập trung tại nhà thờ, các đồ thánh, kể cả áo lễ, khăn bàn thờ, cờ phướn, nói chung là vải vóc, rồi binh đội Vandale lấy may quần!. Ở Carthagô nhà thờ không bị quân Ariô tịch biên thì bị cảnh sát đóng cửa! Ở Bulla Regia, người Công Giáo tập họp mừng lễ Phục Sinh bị vây và tiêu diệt bằng cung tên. Người Công Giáo Phi Châu vừa phát hiện ra rằng tên Gensêric, viết bằng chữ HiLạp, nếu đem các chữ cộng lại thì ra “ba số 6” (666) đúng là số của Con Thú trong sách Khải Huyền và họ thấy mình nghiễm nhiên sống dưới ách tên phản Kitô! Victoriô đệ Vita đã ghi lại vô số chi tiết, tất cả đều gớm ghiếc, về các cuộc bách hại của rợ Vandale: nào khổ hình,nào trại giam, nào là thiếu nữ Công Giáo bị sĩ quan mọi rợ bắt cóc, nào nữ tu bị hãm hiếp… Gensêric chết.
Kế vị hắn là Hunêric, mặc dù lấy em Hoàng đế Valentinianô III, tình hình vẫn không khá. Thực tế chính sách khủng bố không đi đến kết quả nào cả:
Rợ Vandale quá ít để có thể theo đuổi chính sách ấy lâu dài. Lúc đầu chúng khai thác Phi Châu bằng cách tổ chức cướp phá có phương pháp được gọi là “trưng dụng” nhưng trước nạn đói đe doạ, chúng phải hiểu ra rằng sự lao động của dân bản xứ là tối cần thiết và rằng thà tỏ ra bớt hung hãn đi thì hơn là đặt sau lưng mỗi nông dân một binh sĩ!
Binh đội Vandale của Gensêric hủ hoá rất nhanh, chúng lây nhiễm đủ thứ thói hư tật xấu của các thành phố mà chúng đóng quân. Chẳng bao lâu đã suy thoái!
Trong khi đó, được sự ủng hộ của hàng giáo sĩ đầy nghị lực, phong trào chống bè rối Ariô, chống Vandale được tổ chức vơi khẩu hiệu: “Triều đại chúng tôi sẽ lại đến, cùng với Triều Đại của Chúa!”. Nhờ sự độc ác của tập đoàn rợ Maures đánh thuê và sự hèn nhát phổ biến của chính quyền Tây Phương các vua Vandale mới giữ được Phi Châu mấy thập niên nữa. Nhưng năm 533 Hoàng đế Giustinianô tấn công chúng với một số quân chỉ có 15 ngàn người là chúng “đổ”, điều đó chứng tỏ sự thống trị của người mọi rợ ở Phi Châu là mong manh và giải pháp Vadales là thất bại.
Giải pháp II: Giải pháp Đông Gốt: Chủ trương tổng hợp những nhân tố của Lamã Chế và mọi rợ dưới quyền các lãnh tụ Nhật Nhĩ Man theo lạc giáo, thay thế chính quyền Đế Quốc. Tư tưởng “Hợp Tác” này nhiều lãnh tụ mọi rợ đã nghĩ đến.
Trước tiên là Athaiilf, em vợ Alaric, người rợ Gốt tế nhị đã muốn cưới người đẹp bị tù là công chúa hoàng gia Galla Placidia một cách tự do, vì tình, ở Arles với các lễ nghi long trọng kiểu Lamã. Orôsiô kể rằng: khi ông ở Bêlem với thánh Giêrônimô, ông đã gặp một cựu công chức trước kia ở Narbone, đã quan hệ rất gắn bó với nhà lãnh tụ Gốt và ông đã nghe kể ý đồ của hắnnhư sau: “Trong thời gian đầu, Athaiilf đã muốn xoá bỏ ngay cả tên người Lamã, lấy đất đai và chính quyền trao cho người Gốt, tạo ra một thứ Gốt Chế, thay thế Lamã Chế. Bản thân hắn, Athaiilf, sẽ là Cêsar Augustô! Nhưng về sau kinh nghiệm cho thấy rợ Gốt không có khả năng tuân giữ luật pháp, vì tính chúng rất thô bạo và vì không tôn trọng luật pháp thì không thể nào tạo dựng một quốc gia vững chắc được. Vì thế hắn mới ủng hộ Hoàng đế Lamã và được hậu thế gọi là người trung hưng, chẳng qua là hắn không thay thế được mà thôi”. Cái chết ngăn cản Athaiilf thực hiện kế hoạch đó. Nhưng đến cuối thế kỷ nó sẽ được đem ra áp dụng trong những điều kiện dễ dàng hơn, vì Hoàng đế Tây Phương không còn, Đế Quốc chỉ còn là một huyền thoại với Thêôđôric, vua Đông Gốt.
Thêôđôric nguyên là con tin ở triều đình Constantinôpôli, ông nói thạo tiếng Hylạp và Latinh. Từ lâu Thêôđôric vẫn nổi tiếng là mù chữ! Nhưng các học giả hiện đại cho rằng ông biết viết, tuy viết có hơi vụng một tí thôi! Dưới các pháp lệnh, ông viết chữ “legi” thay cho chữ ký, và muốn cho nó được đẹp, ông đã truyền đục chữ đó trên một cái khuôn bằng vàng, để ông đồ theo cho chắc ăn! Việc tập viết của ông rất là khó khăn, có tác giả bảo là ông đã phải cố gắng trong 10 năm mới biết viết! Có chút đỉnh văn hoá, hiểu rằng Văn Minh thêm gì cho vũ lực, Thêôđôric cố thử sự thực hiện hoà hợp hai nhân tố trong lãnh thổ của mình và tìm sự hoà giải giữa người Gốt và người Lamã, để từ cả hai sinh ra một quốc gia duy nhất. Ba mươi ba năm triều đại ông (493–526) đối với nước Ý là một giai đoạn phồn vinh và vĩ đại. Cai trị từ xứ Hungaria tới sông Rhône chưa lấy làm đủ, Thêôđôric còn tìm cách bành trướng ảnh hưởng ra ngoài lãnh thổ của mình, bằng cách gả các con gái cho các vua Tây Gốt hoặc Burgondia, gả em cho vua Vandale, bản thân ông lấy em vua Clôvis, vua rợ Franc. Uy tín ông lớn đến nỗi vào cuối đời, ông đã nhân danh Amalaric vua Tây Gốt còn trẻ, bảo hộ miền nam xứ Gaule và nước Tây Ban Nha; và các Hoàng đế Byzancia đối xử với ông một sự tôn trọng thành thật.
Tất cả chính sách đối nội của Thêôđôric đều cho thấy rằng: ông mong muốn, nếu không hoà lẫn được–vì hôn nhân giữa Lamã và mọi rợ, trên nguyên tắc đã bị cấm theo luật của chính Đế Quốc–ít nữa là có sự nhất trí giữa hai nhóm dân của nước Đông Gốt. Thêôđôric đổ lại hoàn toàn cái khuôn Đế Quốc, từ các công chức, các quan chức, nghị viện – Ông vẫn đến đó đọc diễn văn dài dòng long trọng kiểu Lamã – Ông viết cho Hoàng đế Anastasiô: “Vương quốc của chúng tôi là một sự bắt chước vương quốc của ngài!”. Hết ý! Trong cố gắng sát lại gần nhau, ông đã đi khá xa, muốn rằng về luật pháp, người Lamã và người Gốt đều được xét xử công bình như nhau. Cùng một đền đài cho các cựu công dân và những người mới, cùng một trò chơi ở nhà xiệc! Các địa vị chỉ huy cao cấp trong binh đội cũng như hành chánh được phân phối đồng đều cho người Lamã cũng như người Gốt, một cách công bằng, không phân biệt đối xử . nhiều người Gốt không học tiếng Nhật Nhĩ Man mà học tiếng Latinh. Noi gương các Augustô và các Cêsar, Thêôđôric xây cất rất khẩn trương nào đường xá, làm thuỷ lợi, vét đầm Pontinsô, sửa sang cung điện Palatin, nhà hát, ống nước, ống cống củaThành. Tại Ravenna mọc lên nhiều đền đài theo kiểu Byzancia với các bức khảm huy hoàng, như đền Thánh Linh, nhà Rửa Tội của người Ariô, thánh Apollinariô–Mới (lúc đó gọi là Thánh Martinô trời vàng).
Trong cố gắng này, ông đã được sự ủng hộ của người Lamã, cả quý tộc lẫn Công Giáo, như thánh Ennôđiô thành Pavia, Boèce và Cassiôđôrô. Những người có văn hoá truyền thống này đã phục vụ lãnh tụ Gốt theo Ariô kia, có lẽ họ thấy nơi người mọi rợ có thiện chí này, phương thế cứu vãn nền văn minh, trả lại cho Lamã Chế sức mạnh và niềm tin trong tương lai, còn trở ngại tôn giáo giữa họ và những người bảo vệ trật tự mới này họ hi vọng với thời gian và với ơn Chúa sẽ được giải quyết.
Nhưng vấn đề lại không được giải quyết! Chính sách “hợp tác” của Thêôđôric vấp phải sự chống đối của cả hai phía mà ông muốn kết hợp cho một số cố gắng chung. Phía người Gốt thì ai oán–làm chủ làm gì nếu không phải là để thống trị bọn bại trận?–và nghi ngờ đối với văn minh, ông đã hiểu được điều này khi chính con gái ông, Amalasonthe muốn cho con mình được giáo dục theo kiểu Lama thì những người Gốt đã làm um sùm đến nỗi nàng phải từ bỏ ý định đó. Còn hàng giáo sĩ Ariô cấm họ bàn bạc, cãi lý thần học trong sự tự phụ,ỷ thế ta đây cùng Đức Tin với nhà vua làm sao được? Phía Công Giáo, bất chấp lời tuyên bố của Cassiôđôrô rằng không ai phải lo lắngcho Đức Tin của mình cả, quần chúng, hàng giáo phẩm cỡ trung và quí tộc địa chủ vẫn nghi ngờ (họ còn sùng, vì bị trưng dụng 1/3 tài sản!). Luôn luôn vua Đông Gốt vấp phải sự chống đối ác ý của một linh mục hoặc sự ác khẩu của một nhà giảng thuyết và dần dần, điều đoa làm ông nghi ngờ, khó chịu, điên tiết! Khi Boèce lo đặt nền tảng cho nền văn minh muốn có sự xích lại gần nhau giữa Đức Giáo Hoàng và Byzancia thì Thêôđôric tưởng rằng đó là một âm mưu của Công Giáo chống lại ông, là tín đồ Ariô nên ông ra lệnh bắt Boèce kết án và sau một năm ngồi tù1, ông bị đem ra hành quyết. Từ đó vị vua già người Gốt thay đổi chính sách, sử dụng vũ lực.
Đức Giáo Hoàng Gioan I được lệnh sang Byzancia đòi trả các nhà thờ của bè rối và cho người Gốt đã trở lại Công Giáo được trở về với đức tin của họ! Vì Đức Giáo Hoàng không thành công trong sứ mạng nghịch cảnh ấy, Thêôđôric ra lệnh bỏ tù người và Đức Giáo Hoàng đã chết rũ tù. Đức Gioan I được coi là tử đạo, khi liệm xác người , người ta đã dành dựt các áo của người. Giáo Hội đã phong thánh và mừng lễ ngày 18/5.
Thế là rõ ràng, giải pháp Đông Gốt cũng không giá trị hơn giải pháp Vandale. Cơ may duy nhất để làm tươi lại dòng máu Lamã già nua bằng dòng máu mọi rợ trẻ trung, bằng cách trộn lẫn hai chủng tộc, cơ may ấy duy Giáo Hội mới có phương pháp để nắm lấy, cơ may ấy gọi là sự trở lại.
Khi người ta đem xác Thêôđôric Cả vào một lăng tẩm hình tròn chật hẹp ngày nay còn thấy ở Ravenna, dưới một cái vòm lợp bằng một phiến đá duy nhất thì một tiểu lãnh tụ mọi rợ khác, một người ngoại giáo thờ ngẫu thần đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội Công Giáo tại nhà thờ chánh toà thành Reims từ 30 năm rồi. Đó là một người Franc, tên là Clôvis. Từ nay Giáo Hội trao chìa khoá vàng của tương lai vào tay ông.
1 Xem LSGH Giữa Thời Trung Cổ, Men Trong Bột, trang 149
1 Thánh Euchêrô
1 Trong thời gian này Boèce viết cuốn Sự An Ủi, kiệt tác cuối cùng của tư tưởng Thượng Cổ.