Văn chương Hy-lạp có rất nhiều truyện thần thoại làm say mê độc gỉa thuộc nhiều lớp tuổi khác nhau, vì ngoài những bài học dạy đời rất đa dạng về nhiều mặt chẳng hạn như luân lý, xã hội, binh pháp, v.v…, chứa đựng trong câu truyện, nó còn lôi cuốn độc gỉa vì có đặc tính kích thích trí tưởng tuợng phong phú của con người, chẳng hạn như câu truyện thành Troy sau đây.
Troy là một thành phố cổ kính nằm trong vùng Tiểu Á. Cách đây vào khoảng 5000 năm, hoàng đế Priam trị vì thành Troy có một hoàng tử tên là Paris. Khi hoàng tử qua thăm Menelaus, là vua thành Sparta, chàng đã phải lòng hoàng hậu Helen vì sắc đẹp mê hồn của bà nên đánh cắp nàng đem về Troy.
Vua Menelaus và thần dân Hy-lạp ôm mối thù với hoàng tử Paris và dân Trojan nên quyết định đem tàu bè sang thành Troy tuyên chiến. Người Hy-lạp vây hãm thành Troy ngót nghét mười năm mà vẫn không làm sao lấy được thành nên Ulysses, một trong ba anh em trai của vua Menelaus, bày mưu tính kế, cho làm một con ngựa gỗ khổng lồ, đem đặt ở ngoài thành Troy rồi rút lui. Dân Trojan của thành Troy ở trong tư thế “án binh bất động” một thời gian thì một phần vì tò mò, phần vì lầm tưởng rằng dân Hy-lạp đã chịu thua, nên ra ngoài kéo “chiến lợi phẩm” vào bên trong thành để chiêm ngưỡng, bất kể lời khuyên của vị đạo sĩ trưởng Laocoon. Đêm hôm ấy đạo quân tinh nhuệ Hy-lạp ẩn núp bên trong bụng con ngựa gỗ len lén bò ra, mở cửa thành cho quân sĩ Hy-lạp phục kích ở bên ngoài thành ùa vào. Kết qủa là ngay trong đêm ấy, thành Troy đã bị xóa sổ vì quân Hy-lạp không những giết gần hết dân Trojan mà còn phóng hỏa thiêu hủy luôn cả thành. Cũng vì sự thất bại tang thương này mà những người theo truyền thống Laocoon tâm niệm rằng: “Người Hy-lạp đáng sợ, ngay cả khi họ có nhã ý tặng quà.” (1)
Nếu câu “Người Hy-lạp đáng sợ, ngay cả khi họ có nhã ý tặng quà” trở thành bài học định mệnh nhắc nhở người Trojan phải thận trọng khi giao tiếp với người Hy-lạp thì câu “Leo cao đào sâu” là điều mà người dân miền nam Việt Nam phải tâm niệm khi lao vào cuộc chiến đấu chống Cộng Sản. Khi đọc bức tâm thư của linh mục Trần Văn Kiệm gửi Tòa Thánh, được đăng lại trên nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, số 80, phát hành tháng 7, 2008, người dân Công Giáo không khỏi run rẩy sợ hãi vì “con ngựa khổng lồ” mà Cộng Sản đã và đang dùng để phá hoại Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam và cộng đồng Công Giáo Việt Nam hải ngoại lại là cuốn Kinh Thánh, là của ăn nuôi dưỡng đời sống tâm linh cho những người con Chúa, mà quân lính phục kích bên trong bụng nó chính là những câu thánh kinh bị thay đổi làm sai hẳn ý nghĩa. Với những sai lạc cố tình phá hủy chân lý của Phúc Âm, bản Kinh Thánh TpHCM, từ khi được phổ biến cách đây mười lăm năm, đã trở thành một viên thuốc độc bọc đường, vẫn còn đang tiếp tục lưu hành trong các giáo xứ Công Giáo Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới.
Trong tình yêu mến và gìn giữ Lời Chúa, người viết bài này xin bày tỏ nỗi băn khoăn lớn lao của mình được âm thầm giữ kín từ bao lâu nay. Là một thành viên của ban giáo lý dự tòng của giáo xứ, chúng tôi được sơ giám đốc giao cho nhiệm vụ chăm sóc những anh chị em Việt Nam từ năm 1999. Để giới thiệu Thánh Kinh với các anh chị em dự tòng, nhóm phụ trách giáo lý thường dùng bản dịch của Linh mục Nguyễn Thế Thuấn. Khi Thánh Kinh của Lm Nguyễn Thế Thuấn trở nên khan hiếm, chúng tôi bỗng thấy xuất hiện một loại Kinh Thánh TpHCM, trông bề thế và bắt mắt với dòng chữ: “Nhà Xuất Bản THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” đuợc bán tự do trong giáo xứ sau các thánh lễ. Sao lại có Kinh Thánh được in tự do ở Việt Nam! Chúng tôi ngờ ngợ nhưng lại bỏ qua cho đến khi một người bạn trong nhóm thánh linh, gọi điện thoại hỏi ý nghĩa của câu truyện Người bạn quấy rầy trong Phúc Âm Lu-ca đoạn 11:5-8, và cho chúng tôi xem KT TpHCM (in năm 1994), chúng tôi mới phát giác ra sự sai lệch của đoạn kinh thánh ấy, khi đối chiếu nó với nhiều bản dịch khác nhau, như bản của Lm Nguyễn Thế Thuấn, của Ủy ban giám mục về phụng vụ, Ủy ban truyền bá Phúc Âm địa phận Sàigòn, của Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn. Trong những bản vừa kể trên, tất cả đều có ý nói đến sự liên lỉ, kiên trì cầu nguyện cho tới khi được Chúa ban cho chứ không phải Chúa cho vì thể diện. Như dẫn chứng sau đây:
“Thầy nói cho anh em biết dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy cho người này tất cả những gì anh cần, vì thể diện.” (KT TpHCM. 1994. Luca 11:8) (2)
“Song nếu kẻ đến vay, cứ gõ cửa mãi, thí Ta bảo anh em: người bạn ấy không dậy lấy cho, vì thương bạn, thì cũng dậy lấy cho tất cả các sự cần dùng để tránh khỏi rầy rà.” (KT Tân Ước. ĐHY Giu-se Trịnh Văn Căn. Luca 11:8) (3)
“Ta bảo các ngươi: ‘dẫu nó không muốn dậy mà cho anh ta vì là bạn thân, thì cũng vì anh ta mặt dày mày dạn mà phải chỗi dậy cho anh ta những gì anh ta cần đến.’ ” (KT Lm Nguyễn Thế Thuấn. Luca 11:8) (4)
“Ba dụ ngôn chính về việc cầu nguyện đã được thánh Luca ghi lại như sau: Dụ ngôn thứ nhất: Người bạn quấy rầy. Dụ ngôn này khuyên ta hãy cầu nguyện năn nỉ: Hãy gõ cửa, người ta sẽ mở ra cho bạn. Những người cầu nguyện như thế sẽ được Cha trên trời ‘ban cho tất cả những gì họ có nhu cầu’, và nhất là Chúa Thánh Thần sẽ ban ơn cho họ, vì Ngài gồm tóm mọi hồng ân.” (Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 2613, trang 773) (5)
Qua sự dẫn giải của đoạn trích dẫn trên thì người cho bánh ám chỉ Thiên Chúa, người bạn quấy rầy là con người: nếu con người có nhu cầu và liên lỉ cầu xin thì sẽ được Thiên Chúa ban cho chứ không phải Chúa cho để giữ thể diện.
Lần mò đọc thêm Kinh Thánh TpHCM, chúng tôi thật đau lòng khi tìm ra nhiều điều khác cũng bị thay đổi như sau:
1. Điều răn thứ tư: “Hãy thảo kính cha mẹ ” bị đổi thành: “Hãy thờ cha kính mẹ” được chép ở nhiều sách trong KT TpHCM (1999) (6) , trải dài từ Xuất Hành tới Luca:
“Ngươi hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.” (Xuất Hành 20:12) – “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi, để được sống lâu, và để được hạnh phúc trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi. (Thứ Luật 5:16) – “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện họ sẽ được lắng nghe.” (Huấn Ca 3:3-5) – “Người ấy hỏi: ‘Điều răn nào? Đức Giê-su đáp: ‘Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian. Ngươi phải thờ cha kính mẹ’, và ‘Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình’ ” (Mát-thêu 19:18-19) – “Đức Giê-su đáp: ‘Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết ngưòi, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.” (Mác-cô 10:18-19) – “Đức Giê-su đáp: ‘Sao ông nói tôi nhân lành? Chẳng có ai nhân lành cả trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn ông biết các điều răn: Chớ ngoại tình, chớ giết ngưòi, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, hãy thờ cha kính mẹ.” (Luca 18:20)
2. Mẹ Maria có đồng trinh khi chịu thai Chúa Giê-su không? Khi đọc KT TpHCM (1999) nếu người đọc là một người đang tìm hiểu Ki-tô giáo sẽ phân vân tự hỏi Mẹ Maria có đồng trinh khi chịu thai Đức Chúa Giêsu do quyền năng của Chúa Thánh Thần hay không vì:
KT TpHCM. 1999 – “Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (Mát-thêu 1:18) – “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.” (Lu-ca 1:26-27)
Nếu đọc những bản TK khác bằng tiếng Việt và tiếng Anh, người đọc được biết Mẹ Maria đã đính hôn:
KT Lm Nguyễn Thế Thuấn – “Đức Yêsu Kitô sinh ra thế này: Maria, mẹ Ngài đã đính hôn với Yuse; trước khi ông bà phối hợp cùng nhau, thì xảy ra là bà đã có thai do tự Thánh Thần” (Matthêô 1:18) – “Đến tháng thứ sáu, thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến một thành xứ Galilê, tên là Nazarét, tới cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Yuse, thuộc nhà Đavít, và tên trinh nữ là Maria.” (Lu-ca 1:26-27)
KT Tân Ước ĐHY Giu-se Trịnh Văn Căn – “Chúa Giêsu giáng sinh như sau: Bà Ma-ri-a, Mẹ Người, đã đính hôn với ông Giu-se, song hai ông bà chưa ở cùng nhau, thì Bà đã chịu thai bới quyền phép Chúa Thánh Thần” (Mát-thêu 1:18) – “Đến tháng thứ sáu, Thiên Chúa sai thiên thần Ga-bơ-rien đến thành Na-gia-rét, trong xứ Ga-li-lêa. Để gặp một trinh nữ, đã đính hôn với ông Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít; trinh nữ ấy tên là Maria.” (Lu-ca 1:26-27)
The New American Bible. Benziger. Glencoe Publishing Co., Inc. (7) – “Now this is how the birth of Jesus Christ came about. When his mother Mary was engaged to Joseph, but before they lived together, she was found with child through the power of the Holy Spirit.” (Matthew 1:18) – “In the sixth month, the angel Gabriel was sent from God to a town of Galilee named Nazareth, to a virgin betrothed to a man named Joseph, of the house of David. The virgin’s name was Mary.” (Luke 1:26-27)
KT TpHCM. 1994 – “Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (Mát-thêu 1:18) – “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.” (Lu-ca 1:26-27)
Cùng in ở TpHCM nhưng bản KT tiếng Việt in năm 1994 dùng chữ đính hôn còn bản KT in năm 1999 dùng chữ thành hôn. Trong thời gian năm năm ấy, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam có gì thay đổi? TGM Nguyễn Văn Bình được Chúa gọi về ngày 1 tháng 7, năm 1995. Như vậy, KT in năm 1999 đã bị thay đổi sau ngày TGM Nguyễn Văn Bình về với Chúa.
3. Đồng tính luyến ái? Người đọc KT TpHCM chắc phải băn khoăn không ít khi bắt gặp ý nghĩa đồng tính luyến ái được diễn tả trong thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu thành Thê-xa-lô-ni-ca:
KT TpHCM – “Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh, tức là xa lánh gian dâm, mỗi người hãy biết lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự” (Thê-xa-lô-ni-ca 4:3-4)
KT Lm Nguyễn Thế Thuấn – “Vì đây là thánh ý Thiên Chúa, (đây là) sự thánh hóa của anh em: anh em phải kị hẳn tà dâm! Mỗi người trong anh em phải biết làm chủ bản thân mình, trong sự thánh thiện và trọng kính.” (Thessalonike 4:3-4)
KT Tân Ước ĐHY Giu-se Trịnh Văn Căn. – “Và đây là ý Chúa: anh chị em hãy trở nên thánh thiện và hãy tránh xa tội gian dâm. Mỗi người trong anh chị em phải giữ gìn thân xác mình cho thanh sạch và nết na.” (Tê-sa-lô-ni-ca 4:3-4)
The New American Bible. Benziger. Glencoe Publishing Co., Inc. – “It is God’s will that you grow in holiness: that you abstain from immorality, each of you guarding his member in sanctity and honor,” (I Tessalonians 4:3-4)
The New Testament of The Jerusalem Bible. Doubleday & Company, Inc. (8) – “What God wants is for you all to be holy. He wants you to keep away from fornication, and each one of you to know how to use the body that belongs to him in a way that is holy and honourable.” (ITessalonians 4:3-4)
Phải chăng đây là một dấu hiệu chuyển mình của Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam: đưa ý tưởng đồng tính luyến ái vào Thánh Kinh?
4. Đức Chúa? – Ngoài những ý nghĩa sai lệch trong KT TpHCM được trình bày ở trên do người viết bài này và một số thân hữu trong nhóm học Thánh Kinh tình cờ tìm thấy, từ ngữ ĐỨC CHÚA cũng đã được dùng thay cho Thiên Chúa/Đức Chúa Trời/Chúa và được in hoa để gợi sự chú ý đặc biệt của người đọc. Chỉ trong sách Khởi Nguyên, từ ngữ ĐỨC CHÚA được dùng 140 lần. Theo lẽ tự nhiên và thông thường, đối với con người sự thay đổi hành động, hay lối suy nghĩ, hoặc những từ ngữ đã được dùng lâu năm và trở thành nề nếp không phải là dễ. Khi đọc đến từ ngữ ĐỨC CHÚA, kẻ viết bài này bỗng có cảm giác là lạ pha lẫn khó chịu nên đã lục lại một tài liệu đọc cách đây khá lâu, do Lm Cao Phương Kỷ viết về sự phiên dịch Thánh Kinh, như sau:
“LẠM BÀN VỀ PHIÊN DỊCH KINH-SÁCH SANG VIỆT NGỮ” có phần phân tích về nhóm chữ “Đức Chúa” như sau: “…c/. Kiểu dùng chữ “Đức Chúa”, trong những bản dịch Kinh Thánh, và Lời Nguyện. Thử tìm hiểu xem tại sao có sự ta than như vậy? Theo tài liệu lịch sử, danh xưng “ĐỨC CHÚA TRỜI” (Blời, Lời, Giời) do Cha Đắc Lộ đã sáng tác ra với sự hợp tác của các Thầy Giảng Việt Nam là những vị nho sĩ, hay cựu tu sĩ Phật giáo. Ngài đã không dùng chữ Hán “THIÊN CHỦ” (THIÊN CHÚA) mà cha Matêô RICCI, đã đặt ra cho giáo hữu Trung Hoa. Ngài cũng không dùng những danh xưng cổ như Thượng Đế, vì là gốc chữ Hán xa lạ với giới bình dân. Nhưng Ngài đã chọn chữ Việt thuần túy “Ông Trời”rất quen thuộc trong ca dao tục ngữ, trong cách than thở, kêu cầu như câu: “Lạy Trời mưa xuống”…”Trời ơi”! “Ông Trời có mắt”… Cũng như Cha Ricci đã thêm chữ “Chủ” vào chữ “Thiên” thành ra “Thiên-Chủ”, cha Đắc Lộ đã thêm “Chúa” hợp với chữ “Trời”, thành ra: “CHÚA TRỜI”.
Chữ “Chúa” (Dominus, Lord, Seigneur) thay cho chữ “Ông” vừa để chỉ ý niệm một về Ngôi Vị (Person) vừa chỉ “Thần Tính” (Divinity), Đấng có quyền phép, toạ dựng vũ trụ càn khôn. Bởi vậy, danh xưng “Chúa Trời” có nghĩa tôn thờ một Đấng cao cả, là Chủ, là Chúa của trời- đất, của muôn vật, muôn loài (xin lưu ý: khởi đầu Cha Đắc Lộ dùng cụm từ “Chúa Trời- đất”, theo nghĩa câu: “Trời che đất chở”, nhưng sau này bỏ chữ “đất”; Cha cũng phản đối dùng chữ Chúa “Dêu”, phiên âm từ chữ Latin “Deus”, vì âm thanh và ý nghĩa kỳ lạ đối với người Việt Nam). Cho nên, chữ “CHÚA” của cha Đắc Lộ thêm vào, chủ ý biểu lộ tính chất vừa là ngôi vị, vừa là thần tính nữa (divinity. Còn chữ “Đức”không có ý nghĩa Thần tính, chỉ là danh hiệu tỏ lòng tôn kính cho nhiều người như: Đức Vua, Đức Bà, Đức Ông, Đức Thầy… Cha Đắc Lộ ghép vào chữ “CHÚA TRỜI” cho thêm phần trang trọng, đáng tôn đáng kính, thành ra cụm từ: “ĐỨC CHÚA TRỜI”. Từ hơn 300 năm nay, bổn đạo Việt Nam đã rất quen thuộc và quen tai với danh xưng này, vừa có âm hưởng nhịp nhàng, vừa có ý nghĩa “hội nhập văn hóa” của dân tộc Việt Nam tin tưởng vào “Ông Trời”, như một đấng Tạo Hóa cầm quyền sinh tử. Do đó, thiết nghĩ kiểu nói: “Đức Chúa”, cụt ngủn, có thể đã phạm luật âm thanh trầm bổng vì đã cắt cụm từ ba chữ đi liền nhau “Đức Chúa Trời”, thành danh từ hai chữ đều là dấu sắc. (Cách nói: “Chúa Trời”, hay “CHÚA” vẫn được chấp nhận). Trong cụm từ “Đức Chúa Trời” đi liền nhau, nếu cắt ngang không đúng chỗ, thành ra thiếu ý nghĩa, hoặc sai nghĩa. Người ta bỡ ngỡ tự hỏi: “Đức Chúa” nào đây? Có phải là Một “Đức Chúa Trời” là Chủ, là Chúa dựng nên trời đất chăng? Hay là một chúa nào khác?...” (DĐGD. Số 43, trang 49-50. Tháng 6/2005) (9)
Trong chính sách “Leo cao đào sâu” mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đang áp dụng để phá hoại Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam và cộng đoàn Công Giáo Việt Nam hải ngoại, cuốn KT TpHồ Chí Minh với nội dung bị thay đổi đã leo lên tới bàn thờ và đi vào từng gia đình, từng nhóm sinh hoạt trong giáo xứ. Kể từ ngày ra đời, KT TpHCM in lần đầu tiên ở Việt Nam bao nhiêu ấn bản, chỉ những ai có ấn bản này mới biết, sách được tái bản bao nhiều lần và ở đâu vẫn là một câu hỏi. Riêng hai bản KT chúng tôi đang xử dụng để xem xét, một là cuốn được tái bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ: 20,000 số, và một là cuốn được in lại năm 1999 tại Đà Nẵng, Việt Nam: 50,000 số. Một số luợng sách khổng lồ với những sai sót đã và đang lưu hành trong GHCG ở VN và hải ngoại.
Thiên Chúa là đầu và hội thánh là thân thể, những người con của Chúa đều tâm niệm như vậy nên sau khi tìm hiểu và biết được những sự kiện đã và đang xảy ra trong giáo hội, mỗi người con của giáo hội có thể khoanh tay làm ngơ được không?
Xin những người con của Giáo Hội dành chút thì giờ để suy niệm và lắng nghe tiếng Chúa trước khi hành động:
“Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta.” (Yoan 10:27)
“Này Ta sai các ngươi đi như chiên vào giữa sói; hãy ở khôn như con rắn và chân thực như chim câu” (Matthêô 10:16)
August 28, 2008
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) The World Book Encyclopedia. Field Enterprises Educational Corporation. Vol. 17, p 375. 1963.
(2) Kinh Thánh Tân Ước. Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Tòa Tổng Giám Mục Giáo phận TpHCM. 1994.
(3) Kinh Thánh Tân Ước. Đức Hồng Y Giu-se Trịnh Văn Căn. Tòa Giám Mục Hà Nội. 1975. Dân Chúa tái bản.
(4) Kinh Thánh. Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn. Dòng Chúa Cứu Thế. 1976.
(5) Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo. NS. Trái Tim Đức Mẹ. 1996. số 2613, trang 773
(6) Kinh Thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước. Nhà Xuất Bản TpHCM. 1999.
(7) The New American Bible. Members of the Catholic Biblical Association of America. Benziger, Glencoe Publishing Co., Inc. Encino, California. 1970.
(8) The New Testament of The Jerusalem Bible. Doubleday & Company, Inc. New York. 1966.
(9) Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân. Số 43, trang 49-50. Tháng 6/2005.