
“Lạy Chúa, từ ngày con đón Mẹ vào lòng, tim con như tan chảy trong cảm hứng dạt dào khó tả mỗi khi triền miên nghĩ tới Mẹ. Như trái xanh trên cành đã đến ngày chín, con tạ ơn Chúa đã giúp con chuyển tâm tình kín dấu trong trái tim thành lời, để làm quà dâng tặng Mẹ. Amen.”
Con yêu Mẹ
Gom chữ lại con ghi thành Phiên Khúc
Maria: Mẹ Đầy Ơn Phúc, Mẹ Đồng Trinh.
Trong cung lòng thanh khiết chứa chan tình,
Con Vua Thánh, Chúa Ngôi Hai nhập thế.
Ơn phúc dư đầy qua bao thế hệ,
Mẹ không ngừng trải rộng xuống trần gian.
Tình Chúa bao la, tình Mẹ dịu dàng,
Là hơi ấm quấn mảnh đời tan vỡ.
Lời Mẹ dặn dò con luôn ghi nhớ,
“Chúa bảo gì, hãy vâng phục làm theo.”
Đời có lao đao trong lúc khó nghèo,
Con theo Mẹ, làm môn đồ trung tín.
Như Mẹ đứng trong đau thương thầm kín,
Nhận lấy lời trăn trối Chúa trao ban.
Trong lòng con rung ngàn tiếng tơ vàng:
Phúc cho con được làm con của Mẹ!
Con muốn nói: “Mẹ ơi! Con yêu Mẹ.”
Bằng vần thơ ngắn ngủi chép vội vàng.
Bằng tim yêu Mẹ tha thiết nồng nàn.
Trong Phiên Khúc Maria kính dâng lên Mẹ.
Đặng Thị Kim Dung
January 2009
Phiên Khúc thứ hai – Trinh Nữ Maria: Mẹ tôi
Trong suốt thời gian bẩy năm ở trung học, cứ mỗi lần được nghỉ vì giáo sư bị ốm, tôi hay cùng các bạn tản bộ từ trường Trưng Vương, ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm xuống Vương Cung Thánh Đường Sàigòn, ở cuối đại lộ Thống Nhất. Tôi vào Thánh Đường đó nhiều lần, không phải để cầu nguyện mà chỉ để chơi và xem các ảnh tượng. Cũng có khi không khí trang nghiêm và thánh thiện ở bên trong làm tim tôi rung động, nhưng rồi tôi lại tìm cách khỏa lấp ngay cảm giác ấy bằng những câu thánh kinh mà tôi thuộc lòng:
“Vì chỉ có một Thiên Chúa và cũng chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại: một người là Đức Giê-su Ki-tô” (I Ti-mô-thê 2:5).
“Thiên Chúa là Thần Khí nên những kẻ thờ phượng Ngài cũng phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật.” (Gio-an 4:24)
Không những vậy, tôi lại còn dựa vào những điều ông mục sư dạy dỗ:
“Mình không cần phải nhờ ai cầu nguyện cả, mình cứ đến thẳng với Chúa. Vả lại, Chúa đã phán mình phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Ngài.”
Vì lớn lên trong khuôn thước và sự dạy dỗ như thế nên ngoài Chúa Giê-su và Chúa Thánh Linh, tôi chẳng biết đến ai và hình ảnh người Công Giáo cầu nguyện trước ảnh tượng, có đôi lúc đã đưa tư tưởng tôi đi ngược dòng lịch sử phát triển của nhân loại trở về thuở hồng hoang, khi những hiện tượng thiên nhiên như gió, mưa, sấm sét, hoặc những loài dã thú cũng có thể khiến con người sợ hãi và thờ lạy như thần thánh.
Thế rồi một biến cố đã xảy ra trong đời tôi: tôi kết hôn với người Công Giáo. Lý do tại sao tôi không chọn một người chồng trong số bạn hữu Tin-Lành, nếu không dựa trên đức tin Ki-tô giáo – đó là ý Chúa – thì thật khó giải thích; vì những sự việc đến và đi trong đời có khi như là một tiền định, vượt khỏi sự toan tính của con người. Tiếp theo cuộc hôn nhân Công Giáo-Tin Lành là những lần Mẹ Chúa bất ngờ đến thăm tôi, và âu yếm dắt tôi đến gần Mẹ hơn. Sau ba lần được gặp Mẹ trong giấc mơ ¹, cuộc hành trình đức tin của tôi bước sang một ngã rẽ mới: tôi trở thành con của Giáo Hội. Ngã rẽ ấy là sự khởi đầu cho một chuỗi thay đổi trong đời sống tâm linh của tôi sau đó, không đến ào ạt như một cơn lốc, nhưng nhẹ nhàng như dòng nước lặng, chảy thật sâu vào hồn tôi, và làm sống lại tình yêu của Mẹ mà tôi đã vùi vào quên lãng từ lâu. Nếu có ai hỏi rằng tôi với Chúa bây giờ ra sao trong đời sống Công Giáo, tôi có thể nhìn vào chính mình và trả lời: “Tình của tôi với Chúa vẫn không phai nhạt. Vì Chúa nằm trong lòng Mẹ nên mỗi khi đến với Mẹ, Mẹ lại đưa tôi đến với Chúa,” như lời của Mẹ trong câu truyện về tiệc cưới Cana:
“Mẹ Ngài nói với các người hầu: ‘Ngài có bảo gì, hãy làm theo.’ ” (Gio-an 2:5)
Một lần gặp lại bạn cũ, chị tần ngần nắm lấy vai tôi và hỏi: “Đời sống em lúc này ra sao? Sao không dắt chồng đi nhà thờ Tin-Lành?” Qua ánh mắt giao nhau, tôi chân thành bày tỏ: “Em có thay đổi nhưng không sao cả, chỉ thấy được yêu nhiều hơn. Đi nhà thờ Tin-Lành em chỉ được gặp Chúa, nhưng ở trong Giáo Hội Công Giáo, em có cả hai, Chúa và Mẹ. Em đang bơi theo giòng nước và trở về nguồn chị ạ!?”
Khi nói với bạn rằng tôi được yêu nhiều hơn, tôi nghĩ đến Mẹ Maria nhưng trong lúc gặp nhau ngắn ngủi ở ngoài chợ, tôi cảm thấy thời gian và không gian chưa thích hợp để thổ lộ với bạn những gắn bó mới giữa tôi và Mẹ: Mẹ Maria đã đi vào đời tôi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày, như qua những câu truyện sau.
Chi tiêu dè sẻn một thời gian, chúng tôi dành dụm được chút vốn nên tìm mua nhà ở thành phố Garden Grove, California. Khi dọn về căn nhà mới, chúng tôi dành ngay một khoảng lớn trong phòng khách, để đặt bàn thờ. Chúng tôi treo một tượng Chúa chịu nạn ở trên cao và đặt cái hộp đựng chuỗi Mân Côi mà mẹ đỡ đầu tôi cho ngay giữa bàn thờ. Tôi vô tâm đến độ hàng ngày nhìn lên bàn thờ để cầu nguyện và đọc kinh trước khi đi ngủ, nhưng chẳng hiểu vì sao tôi không thấy thiếu tượng Mẹ Maria.
Sau một thời gian sống trong căn nhà này, chúng tôi quyết định xây thêm phòng và sửa sang lại cho vừa ý. Vào một ngày không ngờ, tôi lại được Mẹ Maria đến thăm trong giấc mơ. Lần này chân dung Mẹ không sáng rực như những lần trước, với khăn đội đầu và áo choàng của Mẹ mầu hạt dẻ. Trong hình ảnh Mẹ hơi cúi đầu nhìn xuống, tôi bỗng nghe văng vẳng bên tai tiếng nói êm ái: “Nhà con rộng nhưng không có một chỗ cho Mẹ.” Tôi chợt tỉnh. Sau giây phút bàng hoàng xen lẫn rung động, tôi tuột ngay xuống giường, chạy ra đứng trước bàn thờ thiết tha xin lỗi: “Mẹ ơi! Con xin lỗi Mẹ.” Vẫn chưa cầm lòng được, tôi lại nhấc điện thoại kể chuyện cho mẹ ruột của tôi. Nghe xong, bà bảo ngay: “Mẹ Maria thương con đấy! Hôm nay, chở mẹ ra chợ để mẹ giúp con chọn một tượng Mẹ về đặt trên bàn thờ đi.”
Mẹ tôi là một tín đồ Tin-Lành, việc bà ngỏ ý cùng với tôi đi chuộc tượng Mẹ Maria làm tôi vừa ngạc nhiên, vừa cảm động nên ngay sáng hôm đó, tôi đã cùng mẹ tôi đi chợ. Rảo qua mấy tiệm bán kỷ vật, tôi tìm được một tượng nho nhỏ, tương tự như chân dung Mẹ Maria, mà tôi đã thấy trong giấc mơ. Tôi chuộc Mẹ về và hoan hỉ đặt lên bàn thờ. Kể từ ngày ấy, song song với tình yêu của người mẹ trần thế, tôi thấy trong tim nẩy nở một tình yêu mới: tình mẫu tử thiêng liêng với Mẹ Maria.
Vào tuần Thánh của Mùa Chay năm 2006, tôi đi dự đám tang người anh cả của bạn tôi. Gia đình bạn tôi vẫn giữ đạo Tin-Lành nhưng người anh cả và người em gái út, do một sự mạc khải nào đó, đã trở về với Giáo Hội Công Giáo mấy tháng trước. Tôi đến nhà thờ Saint Polycarp, ở thành phố Stanton, California vào khoảng mười phút trước Thánh Lễ. Tới cửa nhà thờ, tôi hơi ngượng vì thấy nhiều cụ cao niên đã đến trước tôi, đứng chờ ở bên ngoài, sau quan tài tự bao giờ, đang chăm chú đọc kinh và lần hạt Mân Côi cho người quá cố. Đến gần một cụ bà, tôi hỏi thăm mới biết cụ chỉ quen với cha thiêng liêng của người đã khuất, nhưng với lòng nhân ái, các cụ chẳng ngại trời lạnh lẽo, bảo nhau đi đọc kinh cho một linh hồn cô lẻ, vì tang gia chỉ có bạn tôi và người em út.
Trong cảnh trời âm u rét mướt, tôi xích lại gần bên cụ bà và nắm tay cụ, tôi ân cần săn sóc:
-“Thưa cụ, mời cụ vào bên trong nhà thờ, trời lạnh quá, con sợ cụ đứng ngoài lâu sẽ bị nhiễm lạnh.”
Cụ nở một nụ cười hiền hòa:
-“Không sao cô ạ! Tôi đứng đây đọc kinh lần hạt cho linh hồn Giu-se, gia đình này đơn chiếc quá!”
Trên gương mặt nhăn nheo của cụ bà tám mươi hai tuổi, tôi tìm thấy lòng nhân ái của Mẹ Maria trong Sự Vui thứ hai – Mẹ Maria đi viếng bà Ê-li-sa-bét, ta hãy xin cho được lòng yêu người – và âm thầm cầu nguyện:
“Mẹ Maria kính yêu, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ của con. Con đã đội lên đầu Mẹ vòng hoa đầu tiên kết bằng điều răn thứ nhất. Mẹ đã không chấp tội con mà dắt đưa con đến gần Mẹ hơn bằng sự nhân lành và khiêm nhường, để con được diễm phúc đứng ở đây, hợp một lòng với đàn con của Mẹ, đội lên đầu Mẹ vòng hoa thứ hai kết bằng lời kinh Mân Côi:
‘Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giê-su, con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.’ ”
“Lạy Chúa, mỗi khi con chiêm ngưỡng Mẹ, Mẹ lại đưa con đến với Chúa vì ý tưởng con không thể tách rời Mẹ khỏi Chúa. Tạ ơn Chúa đã mở cửa lòng con và đặt vào đó một tình yêu mới: Tình Mẹ Maria. Amen”
¹ Tìm Về Cội Nguồn Đức Tin. 2005. Đặng Thị Kim Dung.
(Giấc mơ thứ nhất: “Tôi bị lạc trong khu Bàn Cờ, tay bồng con, tôi loay hoay cố tìm ra đường cái. Trời chuyển mưa nên bỗng dưng tối sầm lại. Tôi hốt hoảng đảo mắt khắp nơi, ‘Ô may quá, có một ít ánh sáng ở cuối ngõ hẻm khi rồi.’ Tôi dấn bước đi tới, ghé tai con tôi nói nhỏ: ‘Con ơi! Mình hết bị lạc rồi.’ Tôi ôm con thật chặt, đi vội trên con đường quen thuộc, dẫn đến ngôi nhà thờ Tin-Lành tôi đã từng đi lễ mỗi ngày Chúa Nhật, từ thuở nhỏ cho tới ngày tôi rời bỏ Việt Nam. Vừa bước vào bên trong, tôi bỗng giật mình kinh ngạc khi nhìn thấy tượng Bà Mary đứng giữa nhà thờ, trước bục giảng.” – Giấc mơ thứ hai: “Vào một buổi chiều, tôi đưa con ra công viên đằng sau nhà chơi. Con tôi khỏe mạnh, dễ thương và hay cười. Nó đang chạy tung tăng trước tôi thì thình lình nó khựng lại, chạy đến tôi, nắm tay tôi lắc mạnh: ‘Mummy, I built this one (Mẹ, con làm cái này). Mummy, I built that one (Mẹ, con làm cái kia).’ Trời đang trong xanh thì đột nhiên có mấy hột mưa to rớt xuống người tôi, rồi tôi nghe tiếng con tôi kêu lớn: ‘Mummy, go to the shelter (Me, đi tới chỗ trú).’ Hai mẹ con chúng tôi chạy đến chỗ trú ở gần đó, khi bước vào bên trong, tôi nhận ra đó là nhà thờ Tin Lành vì không có bàn thờ và Thánh Giá Chúa chịu nạn. Tôi thấy người đi lễ rất đông, tất cả đề đứng. Tôi dắt con len vào hàng ghế cuối nhưng không ngồi xuống. Ngước mắt nhìn lên, tôi không thấy trần nhà đâu mà chỉ thấy bầu trời đêm đầy sao lấp lánh. Giữa vòm trời là hình Mẹ Maria bồng Chúa Giêsu. Tôi thấy gương mặt Mẹ thật lớn, chung quanh đầu có hào quang sáng rực, tôi thấy một bàn chân của Chúa Giêsu và đầu Ngài nép vào ngực Mẹ. Tôi buột miệng: ‘Ồ! đẹp quá!’ ” – Giấc mơ thứ ba: “Tôi thấy mình đi vào nhà thờ Công Giáo, bước vào trong, tôi thấy hình Mẹ Maria in trên trần nhà, gương mặt của Bà nhỏ, ẩn đằng sau bàn chân phải của Chúa Giêsu, chỉ có một bàn chân mà thôi, bàn chân thật to và sáng…”)
Trích dẫn: Kinh Thánh. Lm Nguyễn Thế Thuấn – Thánh Kinh Tân Ước, Phiên Dịch & Diễn Nghĩa, Lm Anthony Trần Văn Kiệm – Kinh Thánh Tân Ước. Đức Hồng Y Giu-se Trịnh Văn Căn.
Phiên Khúc thứ ba – Trinh Nữ Maria: Mẹ của Giáo Hội Công Giáo
Từ khi trở về với Giáo Hội và thực sự sống đời sống Công Giáo, tôi mới thấm được “Tình Mẫu Tử” giữa Mẹ và Chúa cùng với “Lòng Hiếu Thảo” của Chúa đối với Mẹ như thế nào, qua việc đọc kinh và lần chuỗi Mân Côi.
Tôi luôn luôn đem theo chuỗi Mân Côi trong cái ví xách tay. Tôi nghĩ đến lời kinh Mân Côi trong khi chờ đợi ở bất cứ chỗ nào: ngân hàng, phòng mạch bác sĩ, hay ở trước ngã tư đèn xanh đèn đỏ, v.v… Có thể nói rằng suy niệm kinh Mân Côi là một trong nhiều điều thay đổi lớn của đời sống tôi, từ ngày tôi trở thành đứa con sinh sau đẻ muộn của Giáo Hội. Các bạn cũ của tôi, vì không biết và không hiểu được sự thay đổi ấy mang lại cho tôi niềm hạnh phúc và sự gắn bó mới với Chúa như thế nào, nên có lần, sau khi đọc xong tác phẩm Tìm Về Cội Nguồn Đức Tin của tôi, một người bạn thấy khó chịu nên đã gay gắt hỏi: “Tại sao mày lại thần thánh hóa Bà Mary như vậy?”
Ngày xưa, tôi đã từng hỏi câu hỏi về Trinh Nữ Maria tương tự như trên và chỉ nhận được câu trả lời ngắn gọn là điều răn thứ nhất. Ngày nay, khi được hỏi về Bà, tôi phải mở những trang sử của Giáo Hội để xem lại truyền thống đã có từ thời kỳ tiên khởi, cũng như ôn lại cuộc đời làm con Giáo Hội của mình, vì những năm tháng suy niệm bốn Mầu Nhiệm – Sự Vui, Sự Sáng, Sự Thương và Sự Mừng – đã cho tôi cảm nhận rõ ràng về sự liên hệ giữa Mẹ, Chúa và nhân loại: Mẹ Maria không chỉ là Mẹ của Chúa Giê-su mà còn là Mẹ của Giáo Hội, trong đó, tôi là một thành phần nhỏ bé. Dòng sống của Giáo Hội đã khởi nguồn từ trước khi thánh kinh ra đời và vẫn còn tiếp tục phát triển theo thời gian. Sự trường tồn đó có lẽ đã đủ để nhân loại hiểu rằng Mẹ Maria nên thánh bởi quyền năng của Đấng Tối Cao – và Giáo Hội trần thế khi tôn kính Mẹ là thánh, đã dựa trên căn bản của thánh kinh như sau:
“Những ai được Chúa tiền định tuyển chọn thì cũng được Chúa kêu gọi, những ai được Chúa kêu gọi thì cũng được Chúa thánh hóa, những ai được Chúa thánh hóa thì cũng được Chúa tôn vinh.”(Rô-ma 8:30)
Theo thánh kinh thì hình ảnh Mẹ đã có từ buổi sáng thế:
“Ta sẽ làm cho dòng dõi mày cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày sẽ cắn gót chân người.” (Khởi-nguyên 3:15)
Qua sách tiên tri Y-sai-a trong Cựu Ước, chúng ta được biết Mẹ Maria đã là Mẹ của Chúa Cứu Thế từ trước khi Ngài thành hình trong bụng Mẹ:
“Này, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sinh ra một con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.”
(Y-sa-ya 7:14)
Khi suy gẫm Sự Vui thứ nhất, tôi đã cảm nhận được “Tình Mẫu Tử” nơi Mẹ bắt đầu khi mầm sống Cứu Chúa được đặt trong lòng Bà, và dòng máu luân lưu trong cơ thể Mẹ đã truyền sang để nuôi lớn mầm sống ấy:
“Thiên thần nói với Bà: ‘Thánh Thần sẽ đến trên người, và quyền năng Đấng Tối Cao trên người rợp bóng; bởi thế mà trẻ sắp sinh sẽ được gọi là thánh, là con Thiên Chúa!..... Maria mới nói: ‘Này tôi là tôi tá Chúa, xin hãy thành sự cho tôi theo lời Ngài!’ Và thiên thần từ giã bà đi ra.” (Lu-ca 1:35-38)
Mẹ đã săn sóc và nuôi nấng Chúa bằng dòng sữa Mẹ khi Chúa Giê-su còn là một em bé nằm nôi, và sau này, bằng những bữa ăn ngon do tay Mẹ nấu, nên Chúa Giê-su đã mang hình ảnh của một người mẹ khéo nuôi nấng và dạy dỗ con thời niên thiếu:
“Đức Chúa Giê-su khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta.” (Lu-ca 2:52)
Sau biến cố Mẹ lạc mất Chúa khi cả gia đình lên Giê-ru-sa-lem dự Lễ Vượt Qua, thánh kinh không nói đến đời sống của Chúa ra sao nữa. Nhưng khi Ngài bắt đầu cuộc đời hành đạo, nhân loại lại bất ngờ được nghe một dụ ngôn về công việc của người nội trợ: men và bột. Qua đó, con người có thể hình dung ra trái tim Chúa chan chứa những kỷ niệm của thời gian sống bên Mẹ:
“Ngài lại nói với họ một ví dụ khác: Về Nước Trời, thì cũng như men, bà nọ lấy vùi vào ba rá bột cho đến khi tất cả dậy men.” (Mat-thêu 13:33)
Chúa yêu Mẹ Maria suốt cuộc đời. Ngài đã nói cho cả nhân loại biết rằng Ngài lo cho Mẹ đến giờ phút cuối cùng của Ngài ở trần thế:
“Đức Chúa Giê-su thấy Mẹ mình và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người thì nói với Mẹ rằng: ‘Hỡi Bà, này là con Bà!’ Đoạn lại nói với môn đồ: ‘Này là Mẹ con.’ Bắt đầu từ đó, môn đồ rước người về nhà mình.” (Gio-an 19:26-27)
Trước khi lìa đời, Chúa đã đặt môn đồ Giô-an vào lòng Mẹ để Mẹ tiếp tục yêu thương những người đi theo Chúa. Chúa cũng dặn dò môn đồ Ngài yêu phải chăm sóc Mẹ Ngài nên Mẹ Maria đã trở thành Mẹ của Giáo Hội, như Đức Giáo Hoàng Giô-an Phao-lô đệ nhị xác nhận trong tác phẩm Theotókos:
“Phúc âm Giô-an đã cho chúng ta hiểu biết hơn về vai trò của Mẹ Chúa Giê-su trong lịch sử cứu độ, khi ghi lại sự hiện diện của Mẹ Maria trong cuộc đời hành đạo của Chúa Giê-su, từ lúc khởi đầu đến giây phút cuối cùng. Nổi bật nhất là hình ảnh Mẹ Maria dưới chân thập giá. Con Người khi chuẩn bị lìa trần, đã trao cho Mẹ Ngài trách nhiệm trông nom môn đồ Ngài yêu, môn đồ ấy là đại diện của tất cả những người đi theo Chúa. Sau đó, sách Tông-Đồ-Công-Vụ cũng đã ghi lại sự hiện diện của Mẹ Chúa Giê-su, đang cùng với nhóm phụ phụ nữ trong cộng đoàn tiên khởi, chờ đợi Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Tông-Đồ-Công-Vụ 1:14)”
(Theotókos. Pope John Paul II)
Lịch sử Giáo Hội ghi lại nhiều câu truyện Mẹ Maria tiếp tục yêu thương Giáo Hội theo lời Chúa Giê-su dặn dò, qua sự kiện Mẹ đã hiện ra ở nhiều nơi trên thế giới¹ với sứ điệp kêu gọi con người phải ăn năn quay về với Chúa, và siêng năng lần hạt Mân Côi. Theo lời kể lại của những nhân vật được thị kiến Đức Mẹ, chân dung của Mẹ, đôi khi phảng phất hình ảnh sắc tộc ấy; không những thế, Mẹ lại đối thoại với nhân vật được thị kiến Mẹ bằng chính thổ ngữ của dân địa phương, rõ ràng nhất là Mẹ Guadalupe². Điều đó làm cho những người con của Giáo Hội Công Giáo, dù là sắc tộc nào cũng cảm thấy gần gũi Mẹ, và vì vậy, Mẹ Maria còn được mệnh danh là Mẹ của nhân loại.
Lần chuỗi Mân Côi để suy gẫm về cuộc đời của Chúa Giê-su và tước vị của Mẹ Maria trong lịch sử cứu độ là hình ảnh quen thuộc của Giáo Hội, vì nó phản ánh bổn phận và lòng yêu mến Mẹ của những người Công Giáo và của chính tôi nữa. Tâm tình và lòng thành kính gửi trong lời kinh của tôi không đọng lại trên bàn thờ, nhưng vượt không gian và ảnh tượng để đến với Thiên Chúa; như dân Do Thái ngày xưa nhìn lên con rắn bằng đồng trong sa mạc, với tấm lòng ăn năn thống hối để được cứu. Trong sự liên tưởng tới hình ảnh đó, tôi chạnh nhớ tới người bạn cũ mà thương, vì khi tôi đang vui với hạnh phúc có Mẹ, thì bạn tôi vẫn còn hoang mang với câu hỏi: “Trinh Nữ Maria, tại sao Bà được gọi là Thánh?”
“Lạy Chúa, Chúa đã nhắc nhở con về bổn phận đối với Mẹ Maria trong lời trăn trối. Xin cho con biết giữ lòng trung hiếu với Mẹ qua việc lần chuỗi Mân Côi để cầu nguyện cho những linh hồn cần đến lòng thương xót của Ngài. Amen.”
“Lạy Mẹ, Mẹ là một gương mẫu sống để con suy gẫm trong những lúc vui buồn của cuộc đời. Khi con sao lãng và thờ ơ với Chúa thì Mẹ lại đến gần con bằng lời Kinh Mân côi, và nhắc nhở con về những điều thiếu sót ấy. Cám ơn Mẹ đã nhắc nhở con và cho con được hưởng những phút giây hạnh phúc trong tình Mẹ bao la. Amen.
Tham khảo & Trích dẫn:
Theotókos. Volume Five. Pope John Paul II – Kinh Thánh, Lm Nguyễn Thế Thuấn – Thánh Kinh Tân Ước, Phiên Dịch & Diễn Nghĩa, Lm Anthony Trần Văn Kiệm – Kinh Thánh Tân Ước, Đức Hồng Y Giu-se Trịnh Văn Căn.
(¹) Tìm Về Cội Nguồn Đức Tin. 2005. Đặng Thị Kim Dung
“Mẹ đã hiện ra ở rất nhiều nơi trên thế giới như: Á-căn-đình (Argentina), Áo (Austria), Bỉ (Belgium), Bolivia, Gia-nã-đại (Canada), Cuba, Ecuador, Pháp (France), Đức (Germany), Hung-gia-lợi (Hungary), Ái-nhĩ-lan (Irland), Ý -đại-lợi(Italy), Nhật-bản (Japan), Lithuania, Luxembourg, Malta, Mễ-tây-cơ (Mexico), The Netherlands, Phi-luật-tân (Philippines), Ba-lan (Poland), Bồ-đào-nha (Portugal), Tây-ban-nha (Spain), Thụy-sĩ (Switzerland), Việt Nam và Nam-tư (Yugoslavia). Trong mỗi lần hiện ra với nhân loại, Trinh Nữ Maria đều bày tỏ cho con người hiểu rõ thêm:
1. Sứ điệp của Thiên Chúa: kêu gọi con người phải ăn năn, thống hối, nghĩa là từ bỏ tội lỗi và quay trở về với Thiên Chúa.
2. Ơn phúc đặc biệt mà Thiên Chúa ban cho Đức Mẹ, để những người con Chúa biểu lộ lòng kính yêu Mẹ.
3. Vai trò của Mẹ trong đời sống của Giáo Hội.”
(²) “Vào ngày mồng 9 tháng 9 năm 1531, khi anh Juan Diego đang trên đường vội vã đến ngọn đồi Tepeyac để tham dự Thánh Lễ Misa tại trung tâm truyền Giáo thuộc dòng Francisco, thình lình, anh nghe thấy tiếng gọi êm ái của một phụ nữ: ‘Juanito, Juan Dieguito’ ”