
Chắc chắn trong hoàn cảnh lịch sử hiện nay của kitô giáo và của thế giới không có khả năng nào khác để hoàn thành sứ mạng phổ quát của Giáo hội trong những gì liên quan đến đại kết giữa Công giáo và Tin lành, ngoài việc tiếp tục các công tác đối thoại sẵn có.
****
Trong thông điệp khai sáng triều đại của mình vào năm 1978, cố giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã thành thật thú nhận rằng: Chắc chắn trong hoàn cảnh lịch sử hiện nay của kitô giáo và của thế giới không có khả năng nào khác để hoàn thành sứ mạng phổ quát của Giáo hội trong những gì liên quan đến đại kết giữa Công giáo và Tin lành, ngoài việc tiếp tục các công tác đối thoại sẵn có. Nay bước sang thiên kỷ thứ ba kitô, Giáo hội có khả năng tìm một lối tiếp cận mới đối với cuộc khủng hoảng chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma không? Công đồng Trentô, theo giáo triều Rôma, là Công đồng được khai mở nhằm dẹp bỏ những chống đối của ông Luther. Nhưng cuộc khủng hoảng thế kỷ XVI , theo nhận định của nhóm sử gia với Hubert Jedin, không chỉ là sự “nổi loạn” dễ thấy ngoài bề mặt, mà lại là “nhu cầu nội tại” đòi cải cách Hội thánh Ðức Kitô. Trải qua năm thế kỷ, sự chống đối không dẹp hẳn được mà công cuộc cải cách sống đạo cũng chưa đem lại kết quả thích đáng. Vậy Hội thánh ngày nay có phải xem xét lại vai trò và sự nghiệp của Công Ðồng Trentô không?
Sau năm thế kỷ chia rẽ đầy đau đớn, lúc này nên xem xét lại toàn bộ cuộc khủng hoảng, đào bới vào những nguyên nhân sâu xa nhất. Phải chăng vì qúa hăng hái với thái độ chống trả lại các chống đối rất nhiều sai lạc của Phong trào Tin lành, mà Giáo hội công giáo Rôma lại chưa nhận định ra căn nguyên sâu xa của cuộc đại khủng hoảng, và chưa nhận định ra tình trạng suy đồi kéo dài của Hội thánh Ðức Kitô luôn mấy thế kỷ cuối thời trung cổ? Phải chăng Công Ðồng Trentô thiếu phương hướng nhận diện ra cuộc khủng hoảng Wittenberg? Có cần đảo ngược viễn tượng thần học cổ điển kinh viện để Hội thánh Ðức Kitô tìm ra đầu mối mới cho sự phát triển sức sống mầu nhiệm theo mô thức mới, mô thức Nhiệm thể Chúa Giêsu không?
1. Sự nghiệp của Công Ðồng Trentô (xem H. Jedin và các Tự đien nhận định về Công đồng Trentô bãch khoa)
Nh?ng n?t chính y?u:
- Bác b? nhi?u sai l?c c?a phong trào C?i cách
- Qui định Kinh thánh
- Qui định các bí tích
- Sửa trị kỷ luật
- Truyền lệnh thiết lập chủng viện vv . . .
- Bàn luận về ơn công chính hóa
- Hậu quả của Công Ðồng Trentô
- Bản tuyên xưng đức tin
- Không nắm bắt được hướng sống đạo thần bí
- Không hiểu biết gì về những chuyển biến xã hội và văn hóa và những nhu cầu nảy sinh bởi đó (x. John Martin, The Renaissance, trong Encyclopedia of European Social History vol I, pag 150-151).
(08 March 08)
Conclusion. The social history of Renaissance should be seen as consisting of two phases, defined primarily by the demographic fortunes of the European population rather than by the more traditional designations of the Italian and the northern Renaisance. The first phase was the so-called crisis of the fourteenth century, which lasted from about 1330 to about 1450. This phase appears to have prompted social transformations that intensified, especially in the already highty urbanized environment of northern Italy, cultural practices that would became characteristic of the Renaissance as a movement: a growing interest in antiquity as a cultural model and a new emphasis on arstistic consumption or the display of wealth as a courtly elite.
The second phase is the long sixteenth century, which lasted from about 1450 to about 1620, and contributes, at least in part, to the consolidation of the cultural interests and their rapid diffusion throughout the cities and courts of Western Europe as the whole. Social history therefore connects the Renaissance to the history of both medieval and the early modern periods. At the same time social historians have made it plain that the early Renaissance, which derived in important ways from developments in medieval culture, was primarily urban and Italian, while the later Renaissance, which had become a Europe-wide phenomenon increasingly centered on the court, can be fruitfully examinaned in relation to longer-chem developments in early modern culture (most especially the Refomation and the scientific revolution) even down to the time of the French Revolution.
Despite the centrifugal forces inherent in such a distinction, cultural historians can make a strong case far the unity of the Renaissance as an object of study. It remains true that the past that developed with particular intensity in Italy in the fourtheent and fifteenth centuries came to exercise an almost hypnotic influene on the elites of Europe as a whole in the sixteenth century.Thus, with its emphasis on representations and practices, the Renaissance continues to bridge the late medieval and the early modern periods. In the end, tis fastination lies at least in part in its inability to be reduced to (or explaned by) social factors alone.
The Crisis of the fourteenth century
The long sixteenth century
Những biến chuyển xã hội học như nêu trên đây tạo nên hậu cảnh (arrière-plan) cho sự hình thành một lối suy tư thần học mới? Muốn hay không hậu cảnh văn hóa mới cũng tác động ảnh hưởng sâu xa đến toàn bộ sinh hoạt Hội thánh Ðức Kitô theo qui tắc sự hài hòa giữa trật tự quan phòng và trật tự tiền định.
Comparative European Social History
* Reasons for the rise of comparative social history
Defining comparison
* Debates and themes in comparative investigation
The comparative debate on specific national patterns
The social particularities of Europe
Limitations and omissions
* The future of comparison in Social History
Debate on methods
(Encyclopedia of European Social History
Vol 1, pag 113-119)
2. Phương hướng làm việc của Công Ðồng Trentô
- theo thần học kinh viện trừu tượng: không giải thích ơn công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo. Nói cách khác: bóc mất sức sống đạo nơi cuộc sống công chính hóa (justification) của kinh thánh nơi thư Rôma.
- theo giáo luật, quá câu nệ quyền bính theo mô thức Hội thánh cơ chế phẩm trật như là mô thức độc tôn.
3. Ðường hướng sống đạo của Hội thánh Ðức Kitô vào cuối thời trung cổ
- Trì trệ sống đạo theo định hướng kinh viện cổ điển
- Vụ hình thức theo kiểu văn hóa la-tinh (phụng vụ và kinh thánh giữ độc quyền với tiếng la-tinh) trong thời buổi các ngôn ngữ từ gốc la-tinh đang hình thành cho nhiều khối sắc dân Pháp, Ý, Tây ban nha . . . những ngôn ngữ & văn tự riêng biệt.
- Những điềm báo (portent) cho thời đại mới (Lc 12, 55- 56) gồm hai loại:
a/ những điềm báo tích cực
b/ những điềm báo tiêu cực
4. Phân loại các cuộc khủng hoảng trong đời sống Giáo hội kitô giáo.
Qua năm thế kỷ lịch sử, nay là lúc phải biết phân định cuộc khủng hoảng này thuộc loại nào? Có phải là khủng hoảng về tín lý như các cuộc khủng hoảng về mầu nhiệm kitô, về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa chăng? Hẳn là không. Phải chăng đây là cuộc khủng hoảng về đời sống Hội thánh. Nếu đây là cuộc khủng hoảng về đời sống Hội thánh theo phương diện nào, theo giáo luật hay theo đường lối tu đức thần bí nội tâm? Vậy phải tìm hiểu kinh nghiệm ở đâu? Chắc là nên tìm hiểu từ lãnh vực thần học thần bí, chứ không nên chỉ giải thích giáo lý về ơn công chính hóa theo phương diện thần học tín lý hay giáo luật là đủ. Ðólà điều thứ nhất phải biết phân biệt trong việc phân loại cuộc khủng hoảng.
5. Hai lãnh vực thần bí.
Thần bí kitô diễn ra theo hai lãnh vực, một cho cá nhân người tín hữu kitô, hai là trong lãnh vực thần bí, cộng đồng ở qui mô lớn, tức là qui mô cộng đồng Hội thánh. Từ hàng nghìn năm lịch sử, Giáo hội chỉ quen sống với mô thức là một cộng đồng được tổ chức theo mặt luật pháp với cơ chế phẩm trật: Hội thánh cơ chế. Giáo hội có nhiều kinh nghiệm giải thích tín lý và sở trường về thuật cai trị theo giáo hội cơ chế. Theo dòng lịch sử, Hội thánh Ðức Kitô chưa tích lũy được bao nhiêu kinh nghiệm thần bí. Karl Rahner, nhà thần học hàng đầu của Công Ðồng Vaticanô II phát biểu: người kitô sẽ là người thần nghiệm hoặc không là người thần nghiệm. Nghe nói thế, đại đa số tín hữu kitô còn ngơ ngác. Nhận định này cho thấy trong Hội thánh Ðức Kitô còn thiếu kinh nghiệm thần bí về cá nhân người kitô. Chính ngay hàng giáo phẩm cao cấp cũng chưa hẳn là không thiếu kinh nghiệm thần bí trong đời sống bản thân.
Như vậy xem ra nên gia tăng sự tìm hiểu kinh nghiệm về đời sống thần bí cá nhân nơi các người tín hữu kitô. Kinh nghiệm thần bí nơi cá nhân người kitô lại gặp khó khăn khác không dễ vượt qua ngay được. Chắc rằng phải thâu góp từ kho kinh nghiệm cá nhân của lớp kitô hữu ưu tuyển, tức nơi các vị thánh để lựa lọc ra một mô thức chung về lịch trình sống đời thần bí. Từ kho tàng kinh nghiệm thần bí các thánh nhân đem thu thập lại và xếp sắp theo dòng phát triển xuyên suốt đời người tín hữu kitô thì có khả năng rút thành một qui trình phát triển, thành một mẫu số chung. Mẫu số chung ấy có thể coi như là như mô thức cơ bản để soi sáng vào đời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể.
Những chuyển biến thần bí ra sao, sau khi trải qua tuần tuổi cảm nghiệm mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, sau khi được cảm nghiệm về ơn tiền định đời đời trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Chị Elisabeth Ba Ngôi Thiên Chúa có những kinh nghiệm vô cùng sống động về Chúa Ba Ngôi, say sưa với nhan cực thánh của Ngài, say sưa cảm nghiệm về ơn tiền định đời của Hội thánh trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Những kinh nghiệm thần bí ấy mở đường cho Hội thánh đổi đời sang một kiếp sống thần bí khác. Ðó là sống theo mầu nhiệm Nhiệm Thể Chúa Giêsu.
Cuối thế kỷ đại khủng hoảng Wittenberg, Thần Khí Thiên Chúa đã mạc khải cho Hội thánh linh đạo Cát-minh, một qui trình phát triển đời tu đức người tín hữu gồm bảy bậc thần bí rất lạ lùng.
Các người tín hữu có đời sống sung mãn mầu nhiệm Nhiệm Thể Chúa Giêsu sẽ dễ thấy cuộc khủng hoảng chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma nằm ở vị trí nào trong lịch trình phát triển vận mệnh thần bí của Hội thánh. Với đời sống lâu năm theo giáo lý mạc khải về Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu, người tín hữu kitô thấy hàng ngày phải thay đổi tâm hồn và trí khôn mình (Col 2, 2-3) theo mạc khải về Nhiệm thể Chúa Giêsu. Tiến trình thay đổi đời sống thần bí ấy đòi hỏi cả tiến trình hiểu biết hậu cảnh (arrière-plan) văn hoá hỗ trợ đời sống thần bí.
Những thay đổi về mặt sinh lý nào đã đồng thời xảy ra như hậu cảnh sinh lý cho đời tu đức thần bí?
Những sóng não nơi trung khu thần kinh thay đổi ra sao như hậu cảnh sinh lý?
Những làn sóng tim thay đổi thế nào khi chúng đóng vai làm hậu cảnh cho đời sống đức mến?
Thánh Paulô có ơn mạc khải khi viết rằng: Lời Chúa thấu nhập thần kinh, não tủy và gân cốt (thư Do thái 12, 4) thay đổi thân xác con người từ cơ năng này sang cơ năng khác (x. Viễn Việt, Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu, trang 99-100)
* Còn về kinh nghiệm sống đời thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể thì sao? Ðây là lãnh vực còn quá mới mẻ, Hội thánh từng có nhiều kinh nghiệm về tiếp nhận, thấm nhuần giáo lý mạc khải và kinh nghiệm cai trị theo cơ chế phẩm trật. Nhưng Hội thánh còn đang mày mò bước sang kỷ nguyên khám phá, thu thập kinh nghiệm sống đời thần bí, cộng đồng của mình.
Ðây là lúc cần phải xây dựng một linh đạo phát triển Hội thánh Chúa Giêsu đổi đời trở nên Thân Thể mầu nhiệm Chúa Giêsu theo thư Ephêsô (Eph 4, 11-16). Hội thánh theo đó phát triển từng bước qua nhiều thế kỷ mới có kinh nghiệm như đã mua kinh nghiệm phát triển theo mô thức cơ chế phẩm trật (!)
6 . Căn nguyên sâu xa nào?
Phải chăng vào thời điểm lịch sử đó, trước những chống đối rối mù của ông Luther, Công Ðồng chỉ nhìn cuộc khủng hoảng này như một cuộc khủng hoảng về tín lý, và khủng hoảng trái với nếp sống giáo luật vốn quen thuộc? chứ lại chẳng nhận định ra đó là một cuộc khủng hoảng đòi hỏi sống tu đức thần bí : sống đạo. Tại sao các nhà thần học thời đó và tiểu ban thần học của Công Ðồng lại chỉ nhận định cuộc xuất hiện của Phong trào Tin lành là cuộc khủng hoảng tín lý và khủng hoảng về giáo luật? Thưa vì họ chỉ nhìn theo lăng kính thần học kinh viện thời đại đó, chứ không quen nhìn theo lăng kính thần bí. Phải chăng tại họ thiếu kinh nghiệm thần bí, thần bí cá nhân người kitô và nhất là kinh nghiệm thần bí về đời sống cộng đồng của Hội thánh.
Trước hết, nên phân tích cuộc khủng hoảng khởi đầu từ đâu rồi lan sang các diện cuộc sống khác của Hội thánh theo thứ tự nào để đi đến cuộc khủng hoảng về đời sống thần bí.
Cuộc khủng hoảng chia rẽ giữa Phong trào Tin lành tách rời Giáo hội Rôma đâu phải là cuộc khủng hoảng về thần học tín lý kitô giáo, hoặc về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa như thời các Công Ðồng chung ở thiên kỷ kitô thứ nhất.
Cuộc khủng hoảng vào thiên kỷ thứ nhì là cuộc khủng hoảng về Giáo hội, khủng hoảng bao trùm toàn bộ đời sống Giáo hội. Sống là phải phát triển. Sống đạo cũng phải phát triển. Khủng hoảng sống đạo đòi tìm đào sâu vào hiểu biết cấu trúc thâm sâu của Hội thánh. Sau đó phải đào sâu vào đường hướng phát triển vận mệnh thần bí của Hội-thánh diễn ra theo qui trình phát triển ra sao. Có định luật về qui trình phát triển đó thì mới xác định bước sang từ một tuổi đời thần bí này sang tuổi đời khác. Mỗi tuổi đời mới về thần bí của Hội thánh đòi có mô thức mới cho công cuộc phát triển tuổi tu đức thầợn bí đó.
Phải chăng cần có kinh nghiệm sống thần bí trưởng thành theo giáo lý mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu thì sẽ dễ nhận định ra cuộc khủng hoảng hiện đại. Khủng hoảng này cần học hỏi kinh nghiệm từ cuộc sống cá nhân người tín hữu kitô trên đường tu đức từ bậc thưởng ngoạn Ngôi Lời đời đời (Ga 1, 1-18) biến hóa sang bậc thần bí kết hợp với Chúa Giêsu là Ðầu của Thân thể mầu nhiệm của Người.
Những câu hỏi nền tảng về cuộc khủng hoảng Wittenberg?
Người tín hữu tin đạo, nhờ nguyên sức tự nhiên của mình chăng? Ăn chay đánh tội đến tóe máu ra là do cố gắÔng cao độ nhiệt thành bản thân ư?
Làm việc lành phúc đức thành sự được là do nỗ lực của bản thân tôi ư?
Tất cả đều phải đặt lại vấn đề!
Giáo lý về chức năng và vai trò của Chúa Thánh Linh chỉ để tra cứu trong sách vở thôi sao? Áp dụng những gì vào cuộc sống thường trực hằng ngày?
Vật lý hôm nay đòi nhìn sâu vào hạt Proton (?),vật chất và phản vật chất. Các nhà khoa học hài lòng với việc khởi sự thí nghiệm khổng lồ tìm cách tạo lại những điều kiện vật lý ngay sau vụ nổ lớn (Big Bang) trong vũ trụ.
(Xem BBC 10 Sept. 2008 đính kèm).
7. “Yếu tính sự vật và cuộc đời hiện hữu tráo lộn vào nhau (Essentia et Existentia in unum convertuntur).
Triết học siêu hình có luận đề rất bao quát về mối tương quan giữa yếu tính vạn vật và sự hiện hữu của vạn vật tráo lộn vào nhau. Ở kỷ nguyên triết học kinh viện, quan tâm chủ yếu đòi tìm hiểu yếu tính (essence) vạn vật. Ngược lại, vận mệnh loài người ngày nay phát triển sang tuổi đời với mối quan tâm chủ yếu là xây dựng và phát triển căn tính (identité) của con người như một chủ thể hiện sinh hữu thức với ý thức có khả năng phản tỉnh.
Thần học kinh viện khai triển mạc khải Tin mừng để trí khôn thưởng ngoạn Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngược lại, định hướng thần học Hiện hữu (théologie existen-tialiste) hiện đại mở ra con đường thần học sống liên kết con người với Thiên Chúa bằng tình yêu. Con tim đòi sự đáp trả của con tim. Hai linh đạo vừa kể phản ảnh ra sao từ Ðức Giêsu Kitô? Ðức Giêsu kitô vốn là biểu tượng Sự Thật, là biểu tượng cho Sự Sống, và là biểu tượng cho Con Ðường Sống đạo (Ga 14, 6). Trong trường hợp cụ thể đối với câu hỏi của môn đồ Tô- ma, Ðức Giêsu đã trả lời: “Ta là Con Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Con đường Sống đạo trong trường hợp này được đặt đi trước biểu tượng Sự Thật. Một câu khẳng định rất cụ thể về bản thân Ðức Kitô.
Lịch sử phát triển cộng đồng của Hội thánh đến cuối thời trung cổ đã xoay vần đến bước đòi xác định Con đường sống đạo cụ thể làm đầu mối mới cho sự phát triển vận mệnh Nhiệm thể Chúa Giêsu. Có định nghĩa lại ơn công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo thì có khả năng mở ra mô thức mới cho sự phát triển vận mệnh người tín hữu và mở ra mô thức mới cho sự phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể.
8. Cần đảo ngược lối nhìn cổ điển.
Sau tuổi đời phát triển theo mô thức Giáo hội cơ chế, người Kitô phải thay đổi nơi chủ thể hiện sinh đức tin của mình theo cách nhìn khác với cách nhìn của thần học kinh viện thời trung cổ.
Tương tự thế, bản thân Hội thánh cũng phải thay đổi nơi chủ thể hiện sinh đức tin siêu nhiên của mình theo một cách nhìn tinh tuyền khác với cách nhìn của các nhà thần học kinh viện cổ điển.
Thần học kinh viện có hậu cảnh (arrière-plan) văn hóa là siêu hình học. Siêu hình học thì nằm theo hướng phát triển ý thức theo lối uy luận phóng thể. Tổng hợp thần học mới (theo Hiến chế Vui Mừng Hy Vọng số 44) có hướng đối trọng (contrebalance) lại thần học kinh viện. Như thế thần học mới đòi một nền văn hoá đối lập lại triết học siêu hình, đối lập lại hướng phát triển ý thức theo lối phóng thể. Tức là đòi nằm theo hướng ý thức phản tỉnh (rétrospection). Sống đạo đòi phát triển theo ý thức phản tỉnh, đối nghịch lại hướng phóng thể. Vậy chuyển biến từ hướng biết đạo (kinh viện) sang lối sống đạo đâu có đơn giản, hời hợt. Nó đòi cả một sự đảo ngược viễn tượng luận lý triết học, và đảo ngược cả viễn tượng suy tư thần học cổ điển.
Ở đây đòi hỏi cuộc thay đổi hệ biến hóa (paradigm shift) về triết học (Noi Gương Chúa Giêsu q. 1, ch. III, c. 2) và đòi thay đổi cả hệ biến hóa về thần học. Luận lý học về sự đảo ngược viễn tượng trừu tượng hóa thật là phức tạp quá. Các nhà thần học kinh viện không dễ lường ra cuộc khủng hoảng Giáo hội kitô giáo vào thế kỷ XVI. Không thay đổi hệ biến hoá triết học và hệ biến hóa thần học thì không sao có phương hướng giải quyết các vấn đề nan giải về cuộc sống của loài người thời nay và của cả cuộc sống đạo Hội thánh thời nay.
* Có đảo ngược viễn tượng luận lý theo siêu hình học mới thấy phải trở về định nghĩa lại ơn công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo. Vì chưa sống tới tuổi đời phản tỉnh, Giáo hội kitô thời thượng cổ và thời trung cổ không sao có một định nghĩa về Hội thánh. Người ta chỉ miêu tả Hội thánh bằng các hình ảnh từ thời Cựu ước theo hậu cảnh văn hóa tri giác (perception) nặng về giác quan, cũng không sao có thể khai sinh một khoa thần học về Hội thánh-Nhiệm thể.
* Có đảo ngược viễn tượng suy tư thần học kinh viện mới mong có viễn kiến sống mầu nhiệm công chính hóa. Có đảo ngược viễn tượng thần học cổ điển mới mong hóa giải vô số bế tắc và sai khuyết trong đời sống Hội thánh ngày nay. Ðảo ngược viễn tượng thần học kinh viện là nguyên tắc cho việc lãnh đạo mục vụ thế giới hiện đại. Chiến lược mục vụ thời đại hiện nay nằm vào trung điểm giữa hai tuổi đời dài của vận mệnh Hội thánh-Nhiệm thể xuyên suốt đời sống lưu đày trần thế. Khi truyền dạy xây dựng tổng hợp thần học mới với hậu cảnh văn hóa hiện đại đối trọng lại văn hóa siêu hình học Hy-La (Hc VMHV 44) Công Ðồng Vaticanô II đã mặc nhiên làm đảo ngược viễn tượng thần học kinh viện rồi.
(01.8.07)
* Sự thay đổi viễn tượng tin đạo sang viễn tượng sống đạo có bị bất ngờ không? hôi, sôi nước mắt rồi. Khi còn ở tuổi đời hành đạo, người tín hữu đã theo đuổi lối sùng kính vị thánh này, đi viếng nhiều thánh tích khác mãi rồi. Hành đạo là tuổi đời chuyển tiếp để được Thần Khí Chúa thương đưa vào tuổi đời chiêm niệm thiên phú (contemplation infuse).
Không đảo ngược viễn tượng thần học kinh viện cổ điển thì không sao có khả năng nhìn ra viễn tượng mới cho sự phát triển vận mệnh thần bí. Chỉ có Chúa Thánh Linh mới giúp thực hiện đuợc công cuộc đảo ngược viễn tượng thần học cổ điển đó. Giới lãnh đạo không đảo ngược viễn tượng thần học kinh viện cổ điển thì không sao tránh khỏi sai lầm trong việc chỉ đạo mục vụ ở tầm mức chiến lược đối với vận mệnh Hội thánh. Nhiều bước vấp váp về chỉ đạo mục vụ trong năm thế kỷ nay như vụ án Galilê đã chứng tỏÔ. Những vấp váp trong vụ án chống phái Hiện đại (anti-Modernisme) đầu thế kỷ XX cũng vậy. Công cuộc xây dựng tổng hợp thần học hiện đại mà Công Ðồng Vaticanô II truyền dạy (Hc VMHV 44) cũng đòi hỏi như vậy.
9. Lịch sử cuối thời Trung cổ của Giáo hội đòi hỏi điều gì?
Lịch sử đâu có chỉ như một dòng sông lững lờ chảy tình cờ. Người ta đâu cứ vô tư để dòng thời gian trôi qua cõi vô ý thức mà sống tốt được đâu! Sống năm tháng nào là phải hiểu ra ý nghĩa cuộc sống trong thời gian mình đang sống. Phải biết giải thích con đường hiện sinh của mình lúc này đang diễn tiến theo ý hướng tính (intentionnalité) nào? Phải tùy theo ý hướng tính đó mà chọn lựa các nét sống mới cho chủ thể tính con người thể hiện nhờ gặp may được các điều kiện môi trường hiện sinh mới. Ý hướng tính nơi con người chủ thể và điều kiện mà môi trường cung cấp trước mắt phải gặỳp nhau sao cho thích hợp nhất. Ðó là cảnh sống nơi con người cá nhân.
Ướm vào nhịp sống xã hội, vào dòng lịch sử cộng đồng thì phải hành sử ra sao? Lịch sử cuối thời trung cổ cho thấy nền văn hóa theo tinh thần siêu hình học cổ Hy lạp đã khô cạn sức sống. Văn hóa cổ Hy lạp và cổ La mã cạn nguồn sinh lực, và đã lộ ra nhiều nhược điểm không sao khắc phục nổi. Nó hết thời vận vàng son sáng giá nhất của nó chăng? Ðế quốc Rôma tan vỡ từ lâu. Nhiều vương quốc nhỏ thành lập thay đó. Tiếng la-tinh đã biến dạng sang nhiều ngôn ngữ khác.Dòng sinh mệnh châu Âu sẽ chảy theo nền văn minh nào? Khối chủng tộc nào sẽ nổi lên như một Pharaon mới (Rom 9, 17) và giới thiệu ý hướng văn hóa mới nào với các quốc gia châu Âu?
Khi xảy ra cuộc thay đổi thời vận đòi thay thế nền văn hoá siêu hình học cổ Hy-La thì nếp sống của Hội thánh kitô giáo sẽ gặp thử thánh nào? Thần học kinh viện bị hổng chân ra sao? Dân kitô giáo gặp rối loạn trong nếp sống văn hóa và cả trong nếp sống đạo nữa chăng? Thưa đúng vậy. Châu Âu đã gặp rối loạn lớn lao, triền miên từ khi xảy ra cuộc đổi đời văn hoá từ định hướng văn hóa cổ Hy-La sang định hướng văn hóa mới, diễn ra từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.
Nếp sống theo thần học kinh viện công giáo không giải đáp ổn thỏa được với cuộc sống xã hội mới, khi cộng đồng các xã hội châu Âu thời hiện đại đi vào phát triển theo định hướng văn hóa thực nghiệm nhân văn và thực nghiệm khoa học & kỹ thuật. Ðã xảy ra khủng hoảng kép, khủng hoảng cả về định hướng văn hóa và cả về định hướng thần học & tôn giáo.
10. Một hậu qủa dùng để kiểm chứng ngay từ hậu cảnh văn hóa.
Mỗi ngày các chủng tộc và quốc gia châu Âu phát triển thêm sâu vào định hướng văn hóa thực nghiệm khoa học thực nghiệm và văn hóa thực nghiệm nhân văn & nhân bản thì Hội thánh tại các chủng tộc, các quốc gia châu Âu, châu Mỹ xem ra càng xa rời kitô giáo. Xã hội Âu Mỹ sẽ còn lâu mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng văn hoá thực nghiệm nhân văn & nhân bản và còn lâu Giáo hội kitô giáo mới mong thoát khỏi cuộc khủng hoảng tôn giáo hiện nay chăng?
Tác giả cuốn “Muối cho đời” đồng thuận với nhà báo Ðức rằng: “Người ta cho Giáo hội là một hệ thống gìa cỗi xơ cứng, càng ngày càng rút mình vào cố thủ dưới manh áo giáp nặng nề đè lên ngay chính cuộc sống mình” (X. Hồng y Gio-sép Ratzinger, Muối cho đời, trang 18). Thú nhận như thế nhưng cho đến nay chưa dễ tìm ra lối thoát cho Hội thánh Ðức Kitô khỏi khủng hoảng về con đường sống đạo.
11. Hội thánh Ðức Kitô từ năm thế kỷ nay bị khủng hoảng về vận mệnh sống đạo.
Cuộc khủng hoảng thứ nhì này thực ghê gớm. Cuộc tranh cãi xảy ra gay gắt và dai dẳng gần ba mươi năm giữa các phe phái Tin lành với Giáo hội Rôma. Rồi Công Ðồng Trentô diễn ra gần ba chục năm sau năm 1517 đều không sao đem lại bước đại kết cho Hội thánh. Giới tuyến chia rẽ kitô giáo trở nên dứt khoát.
Bấy giờ nước Ðức chưa thống nhất các địa phương thành một quốc gia. Người ta đánh nhau ba mươi năm trường giữa các bang tại Ðức rồi phải chịu ký bản tạm ước Westphalie (1648) chấp nhận hiện trạng: “Miền nào đạo nấy”. Tin Lành được công nhận bình đẳng về pháp lý với Công giáo. Cuộc xung đột Công giáo với Tin lành lan sang cả nước Pháp với “Ðêm Barthélémie” tàn sát người Tin lành. Hoà ước Westphalie (1648) chỉ là tạm ước, một tạm ước chấp nhận cho Phong trào Tin lành có tư cách pháp nhân để tồn tại. Như thế mới là có giải đáp về mặt pháp luật xã hội, chứ chưa tìm ra đầu mối để cải tiến và phát triển đời sống nội tâm của Hội thánh Ðức Kitô! Bao lâu chưa tìm ra giải pháp về sống đạo, sống thần bí làm đầu mối thì khủng hoảng dây chuyền còn kéo dài. Hội thánh càng gặp thêm trở ngại trong việc hóa giải cuộc khủng hoảng Wittenberg.
12. Căn tính thần bí người tín hữu kitô.
Người tín hữu kitô cá nhân không tìm ra căn tính (identité) thần bí kitô giáo cho mình theo đó mà sinh sống từng giờ, từng phút. Một căn tính phải được xây dựng và phát triển qua nhiều tuổi đời dài, tức nhiều tuần tuổi hiện sinh, vượt qua các cột mốc đổi đời có bài bản trình tự hẳn hoi. Vận mệnh thần linh cho cá nhân người tín hữu kitô là một chuỗi mầu nhiệm sự sống trải qua những bước thăng tiến thưởng ngoạn về Ngôi Lời đời đời (Ga 1, 1-14), chiêm ngắm Ba Ngôi Thiên Chúa cực thánh vv . . . Mỗi bước thăng tiến thiêng liêng như thế, linh hồn được đổi đời rất mầu nhiệm, như tuổi đời được say sưa cảm nghiệm ơn tiền định đời đời trong Chúa Ba Ngôi (Eph 1, 3-14).
Lịch trình phát triển vận mệnh thần bí cá nhân tín hữu kitô cũng xen kết đầy gian nan thử thách như “đêm giác quan”, “đêm tinh thần”. Ðời sống thần bí nơi các thánh là thế.
Thời Thượng cổ và thời trung cổ, các nhà thần học tu đức chưa khám phá ra, các vị thánh chưa thể trình bày lịch trình tu đức ra cho có bài bản diễn tiến mạch lạc. Con Ðường sống đạỳo cho cá nhân tín hữu kitô là tiền mẫu (prototype) cho con đường phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu. Ai dám chống lại điều đó. Hội thánh phải sống và hội ra đâu là căn tính (identité) thần linh của mình. Trong bậc tự nhiên, triết học nhân bản ngày nay cũng đòi nhân loại sống đào vào căn tính luận lý tâm linh của con người. Ðồng thời triết học thực nghiệm hiện đại cũng đòi nhân loại ngày nay đào sâu căn tính nhân bản của cộng đồng nhân loại. Căn tính tâm lý và căn tính nhân bản là những mục tiêu loài người còn phải mệt công khám phá để được sống cho ra người theo định nghĩa là chủ thể hiện sinh có ý thức và ý thức có khả năng suy tư phản tỉnh chính cuộc sống của mình .
13. Căn tính thần bí của Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu.
Con đường sống đạo cho chính bản thân Hội thánh ư? Hội thánh Ðức Kitô đâu chỉ là một xã hội (cộng đồng các tín hữu) được tổ chức theo cơ chế phẩm trật (Mt 16, 18). Các thư Rôma, Ephêsô và Colôsê đều khẳng định rõ ràng Hội thánh là Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu (Eph 4, 11-16). Hội thánh từ hàng nghìn năm trước đã được tổ chức và sống ổn định theo mô thức cơ chế phẩm trật vững vàng.
Ðó mới là đi tìm bản tính trừu tượng của Hội thánh. Nhưng thế chưa đủ. Ðâu là bản chất hiện sinh siêu nhiên của Nhiệm thể Chúa Giêsu?
Ngày nay từ nội tâm của mình, Hội thánh đang có nhu cầu phát triển mới. Mô thức Hội thánh cơ chế phẩm trật gặp dị ứng quá nặng nề. Hậu cảnh văn hóa nhân bản hiện đại vừa là một thách đố vừa là nguyên nhân hỗ trợ cho việc Giáo hội chuyển sang sống theo mô thức mới về Hội thánh-Nhiệm thể.
Giáo hội vừa có cơ chế phẩm trật vừa là Thân Thể mầu nhiệm Chúa Giêsu vốn thật thánh thiêng mà cũng đầy rẫy thử thách đau đớn, chứ không bằng phẳng trơn tru như được vẽ trên giấy tờ hay bàn luận nơi miệng lưỡi. Có thể hỏi trong đời sống thần bí cộng đồng của mình, Hội thánh Ðức Kitô xét như là một chủ thể hiện sinh tập thể siêu nhiên, có phải chịu những cuộc thanh lọc tập thể tương tự như “đêm giác quan” hay “đêm tinh thần” trong đời sống cá nhân người tín hữu kitô không? Những thử thách tập thể đã được sách Khải Huyền ghi lại trong các thư gửi đến bảy giáo hội địa phương (KH, chương 2 và 3). Bảy giáo hội gặp khủng hoảng trong đời sống tín lý của mình về lòng tin nhận Ðức Kitô (KH 1, 18). Ngày nay đời sống sống đạo xét theo là sống đạo sao tránh khỏi những thử thách về thần bí. Rất nên tìm hiểu sâu rộng về các cuộc khủng hoảng loại mới này.
Cuộc cấm đạo đại qui mô và dữ dằn được sách Khải Huyền tường thuật nơi các chương trong phần hai (KH , chương 12-13) phải chăng là một thứ “đêm tinh thần” khác cho vận mệnh Hội thánh kitô chăng? Hội thánh Ðức Kitô hẳn phải chịu nhiều cuộc thanh lọc ghê gớÔm đầy máu me trên đường phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của mình, trước khi được đón nhận làm hôn thê của Ðức Kitô (KH 22, 17). Sách Khải Huyền nói đến nhiều cuộc khủng hoảng của Hội thánh địa phương và cả Hội thánh phổ quát. Tuy nhiên, sách Khải Huyền không giúp gì nhiều và trực tiếp cho việc tìm hiểu về cuộc khủng hoảng Wittenberg mang tính thần bí.
14. Hội thánh Ðức Kitô là một chủ thể hiện sinh cộng đồng và siêu nhiên.
Công Ðồng Trentô không xác định ra căn cước (identité) thần bí kitô của Hội thánh để lo phát triển. Công Ðồng Trentô minh định nhiều giáo huấn. Tuy nhiên, Công Ðồng lại chưa xác định được giáo huấn chủ yếu nhất cho thời đại. Ðó là giáo huấn về sống đời thần bí mang tính cộng đồng mà Hội thanh đang cần xây dựng. Ơn công chính hoá (justification) chỉ được giải thích theo phương hướng là một đạo lý về tín lý. Ðó là một giải đáp (solution) rất hay theo phương diện lý luận thần học kinh viện.
Tuy nhiên như thế ơn công chính hóa bị lột mất bản chất mầu nhiệm sống đạo, chỉ còn là ý niệm trừu tượng thôi sao? Mầu nhiệm Sống đạo sẽ đòi mở ra cho Hội thánh con đường sống đạo dài đời và diễn tiến theo nhiều tuổi đời, tức nhiều kỷ nguyên thần học.
Như vậy ơn công chính hóa đã không được giới thiệu như một bài thuốc chữa bệnh thích hợp hầu đem lại sức khoẻ cho con bệnh. Không được vạch ra như một con đường, một “Con Ðường” đem lại “Sự sống” siêu nhiên (Ga 14, 6). Nguyên nhân nào xui khiến việc giải thích ơn công chính hoá chỉ là một giáo lý về tín lý? Thưa: Công Ðồng Trentô vẫn một bề mang chứa sức nặng của thần học kinh viện dòng cổ Hy lạp & La mã nên đã không nhìn ra linh đạo phát triển vận mệnh thầợn bí cho cá nhân tín hữu kitô. Hơn thế nữa, Công Ðồng càng không dễ nhìn ra linh đạo phát triển đời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu. Dự thảo thứ nhì cho lược đồ về ơn công chính hoá do quan điểm dòng thánh Augustinô đệ trình với Công Ðồng muốn thay thế bản dự thảo thứ nhất do trường phái Tô-ma đệ trình. Tuy nhiên lược đồ thứ nhì cũng chưa thoát nổi sức nặng của thần học kinh viện (x. Hubert Jedin, The Church History, vol. 2, pag)
Dự thảo sau vẫn chưa đưa ra bài thuốc thích hợp nhất. Bài thuốc mới vẫn thiếu những vị thuốc cần thiết nhất. Ðiều cần thiết nhất vào lúc này là phải trở lại ơn công chính hoá nguyên thủy nơi thư Rôma. Có giải thích ơn công chính hoá là mầu nhiệm sống đạo thì mới hy vọng Công Ðồng đưa ra một linh đạo phát triển vận mệnh thần bí cho cá nhân tín hữu kitô. Con bệnh dòng Nhật nhĩ man chưa được thẩm định sát căn cước (identité) sống đạo của Hội thánh. Căn cước thần bí nơi Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu thì khác với yếu tính (essence) tín lý về Hội thánh.
15. Các nhà thần học kinh viện và các nghị phụ thời đó không nhìn xa hơn nhãn quan tín lý.
Ơn công chính hóa tự bản chất là một mầu nhiệm sống đạo, sống phát triển đức Mến (ICor chương 13). Ðã là mầu nhiệm sống đạo thì ơn công chính hoá phải được khai triển thành một con đường Ðức Mến, Con Ðường cho Sự Sống kitô giáo. Ðức Giêsu không phải chỉ là Chân lý đời đời. Ðức Giêsu còn là Con Ðường cho cuộc sống đời đời (Ga 14, 6). Trả lời cho môn đệ Tôma, Ngài khẳng định “Ta là Ðàng, là sự Thật, và sự Sống”. Ngài vốn năng tự khẳng định mình là sự Sống, là con Ðường Sự Sống. Chân lý và Sự Sống là hai yếu tố kép luôn luôn được nhắc như điệp khúc trong trình thuật Tin mừng của con Phượng Hoàng Gio-an. Trong trường hợp trả lời vào hoàn cảnh cụ thể cho môn đồ Tôma, Ngài xác định Mình là Ðàng đi cụ thể. Ngài nói Con Ðường trước, rồi mới kể đến Sự Thật sau. Ðường đi của Ngài rất cụ thể mà lại rất mầu nhiệm. Ðó là Con Ðường sự sống, đó là một linh đạo.
Vận mệnh Hội thánh Ðức Kitô vào thế kỷ XVI đòi hỏi xác định cụ thể một con đường sống mầu nhiệm công chính hóa (Rom 1, 17), không chỉ theo như nguyên tắc trừu tượng kinh viện, nhưng là chỉ ra con đường sống vừa mầu nhiệm lại vừa cụ thể. Có như thế mới đáp ứng thích đáng nhu cầu sống đạo của Hội thánh Ðức Kitô. Có như thế mới mở ra vận hội mới cho Hội thánh Ðức Kitô phát triển. Chủ thể Hội thánh vào lúc này đòi sống đạo, nhấn mạnh đến sống đạo. Hội thánh Ðức Kitô cả hàng nghìn năm trước vẫn quan tâm đến phương thức kép ba: “biết đạo”, “theo đạo” và “giữ đạo”. Phương thức kép ba này nặng âm hưởng nhân sinh quan tĩnh thời thưởng cổ và trung cổẩ. Nay từ nội tâm phải chuyển sang phương thức “sống đạo”. Sống đạo là đầu mối mới (Ga 1, 4). Sống đạo mở ra con đường cho loài người được sống đời đời (Ga 3, 16). Sống đạo đòi trả lại cho Hội thánh một nhân sinh quan động (Hc VMHV 4) khác với lối suy tư theo triết gia Aristote.
Công Ðồng Vaticanô II thế kỷ XX nhận định: vận mệnh nhân loại ngày nay bước sang một quan niệm động và tiến hóa khác với quan niệm tĩnh về vũ trụ (Hc VMHV 5- 6). Nhận định của Công Ðồng Vaticanô II không phải chỉ là lời nhắn nhủ khéo léo nhưng nên coi như một mệnh lệnh nghiêm túc.
Truyền thống kitô giáo khu vực Bắc Ðại tây dương, khu vực các Giáo hội nói tiếng Ðức đòi hỏi con đường sống đạo như vậy. Giáo triều Rôma không nhận ra dấu chỉ ấy của thời đại. Là một mầu nhiệm sống đạo, ơn công chính hóa không chỉ như một thực tại sống đạo mà đúng hơn còn là một phạm trù (predicament) mới cho sự phát triển vận mệnh thần bí của Hội thánh Ðức Kitô. Hẳn rằng biết bao linh hồn trong các Giáo hội khu vực Bắc Ðại tây dương phải đau khổ vì lo lắng đến vận mệnh Hội thánh từ những thế kỷ XIV, XV và XVI. Tu sĩ Luther đã đi theo truyền thống đời sống đạo Nhật nhĩ man, nhưng ông lại không chỉ vẽ ra được một linh đạo cụ thể cho cả Hội thánh dễ nhận ra lẽ phải! Giáo triều cũng không nhận ra dấu chỉ mới thời đại khát mong một linh đạo cho cuộc sống thần bí kitô giáo. Không nhận ra phạm trù mới cho đời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh, mục vụ thế kỷ XVI đã làm tiêu hao tiềm lực thần bí của khối có khả năng đứng làm chủ lực trong Hội thánh, cụ thể nơi các giáo hội địa phương vùng Bắc Ðại tây dương. Bao nhiêu nhóm tu trì mới bị sớm thui chột, rã ngũ và tàn tạ như tu hội “Lề luật thánh Augustinô”, Huynh đoàn “Anh em sống chung” (x. Hubert Jedin, History of Church, trang 245 đến 256). Vào hai thế kỷ XIV và XV, nhịp sống đạo suy thoái thấy rõ rồi đưa đến suy trầm (récession) với nhiều rối loạn khắp nơi khắp chốn.Những tu hội này là những tu đoàn nêu lên ý hướng mới cả về mặt tổ chức, sinh họat lẫn tu tập.Tình hình tu đức trong toàn giáo hội không sao vực dậy nổi đã đưa đến khủng hoảng (crise) toàn diện vào thế kỷ XVI. Những biến thái lan rộng sang mọi ngành sinh hoạt Hội thánh đưa đến khủng hoảng như theo một hệ thống chưa một lần nào được lịch sử phát hiện.
16. Ðã năm thế kỷ qua, sức sống đạo của Hội thánh Ðức Kitô bị kìm hãm.
Giáo triều không nắm bắt lấy hướng thần học mới của Giáo hội tại Ðức nói riêng và mở rộng ra tại các quốc gia, chủng tộc vùng Bắc Ðại tây dương. Giáo triều không khéo léo giải thích ơn công chính hóa (Rom 1, 17) và khai mở cho họ một linh đạo sống đời công chính hóa theo thư đó. Giáo triều không giúp đỡ họ khai triển cuộc sống thần linh dồi dào của Chúa phù hợp môi trường văn hóa mới của dân Nhật nhĩ man, dân Anglo-Saxon. . . Thật là thiệt thòi cho khối các giáo hội công giáo địa phương khu vực Bắc Ðại tây dương! Nhưng không phải chỉ thua thiệt riêng cho các giáo hội địa phương ấy.
Các xã hội Bắc Ðại tây dương có một tiềm năng văn hóa nhân bản đóng góp rất lớn cho nền văn minh châu Âu hiện đại.Dựa theo hướng đó, Giáo triều có biết dùng đến vai trò của các giáo hội địa phương kitô giáo này như khối chủ lực cho sự phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh- Nhiệm thể toàn thế giới và cho cả nhân loại thời đại nhân bản chăng? Trình thuật Tin Mừng của Mát-thêu báo trước lịch trình từng khối dân tộc, quốc gia được lần lượt kêu gọi vào Hội thánh (Mt 20, 1-16). Nhà lãnh đạo Hội thánh không tinh mắt nhận ra thời điểm khối Bắc Ðại tây dương được đưa vào thời sự tiền định đó sao? Ðâu có phải chỉ có dòng Hy-La mới là con riêng của Thiên Chúa Ba Ngôi Tiền định? Có phải thời tông đồ Paulô trước kia chỉ có Do thái mới là Dân riêng của Ngài sao? Nhà kinh tế kìm hãm tiềm năng kinh tế của một quốc gia, họ có tránh được sai lầm nghề nghiệp không?
Mục vụ đã mắc nhiều bước lầm lẫn lớn cho thời đại. Với nhãn quan hành chánh đầy quyền uy theo phương diện luật pháp cổ Rôma, Giáo hội La mã mắc sai lầm ở đây, một sai lầm mang tính chiến lược. Sức sống thần bí của Hội thánh-Nhiệm thể bị đui chột luôn năm thế kỷ nay. Mặt khác những lề thói giữ đạo cổ điển cứ chùn lại và xù ra với nhiều lối sùng kính các thánh, nhưng lại mang ít tính kitô giáo. Lối giữ đạo cổ điển ưa tính đếm các việc lành, cộng các ân xá và không mấy quan tâm vào xám hối, đổi đời nội tâm! Không lạ gì Hồng y J. Ratzinger than vãn châu Âu ngày nay mỏi mệt về đức tin (x. Muối cho đời, trang 129).
17. Suốt thời trung cổ, giáo hội kitô mang nặng tâm thức cai trị.
Tâm thức cai trị theo pháp luật vốn là mối quan tâm hàng đầu lo bảo vệ cơ chế phẩm trật, giữ gìn an ninh và trật tự trong Hội thánh cơ cấu. Những gì đòi thay đổi nếp sống ấy, hàng giáo phẩm đều nghi ngại. Ai chống đối có điều chi xem ra ngang ý nhà cầm quyền thì nhà cầm quyền sử dụng biện pháp chính là trừng trị nhiều hơn là lo cải tạo, và uốn nắn. Ông Luther chống đối những tệ lạm là chống đối đúng đắn, nhưng ông lại cũng chủ trương nhiều điều sai lạc trầm trọng gây rối loạn đến tận căn cội quyền bính của Hội thánh. Luther chống đối, thì phản ứng của Công Ðồng cũng ưa thích tính chống đối lại (contre-réformation). Trong giáo hội công giáo Rôma, người ta mạnh mẽ dùng kiểu nói “chống cải cách” suốt mấy thế kỷ nay. Giáo hội Rôma đã không vượt qua cách phản ứng trực tiếp, tức thời và không dễ nhìn ra ưu tiên một giải pháp tích cực khác lạ với thói quen thường tình của mình.
Giáo hội đã không gợi ra một linh đạo phát triển đời sống thần linh (thần bí) cho cá nhân người tín hữu kitô. Giáo hội cũng không đưa ra một mô thức mới cho việc phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của bản thân Hội thánh vào tuổi đời mới, theo mô thức mới về phát triển. Ðến như một định nghĩa về Hội thánh, Công Ðồng Trentô cũng chưa có, làm sao có hẳn một bộ giáo lý minh bạch về Hội thánh. Thật dễ hiểu ông Luther đã múa gậy vườn hoang, càng gây thêm tan hoang cho Hội thánh Ðức Kitô!
Nhắm cai trị đầy quyền uy là chưa đủ hiểu biết về quyền quản lý và điều hành Hội thánh Ðức Kitô. Cung cách cai trị bệ vệ theo cổ luật và văn hóa Rôma gây thiếu tinh tế về nghệ thuật lãnh đạo Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu.
18. Các nhà thần bí Nhật nhĩ man t.k. XIV-XV nêu khát vọng mới về thần học.
Dòng Hy-La từng dày công xây dựng định hướng thần học kinh viện nhờ các giáo phụ Ðông, Tây lẫy lừng. Ngược lại, cuối thời trung cổ, thần học nổi lên xu hướng rẽ sang ngả sống thần bí. Trường phái suy tư từ thần học kinh viện quay về đời sống đức hạnh, quan tâm đến sự cứu rỗi các linh hồn. Bước ngoặt này hướng về luân lý, thực hành và cụ thể, liên kết chặt chẽ hơn với sự từ bỏ thế tục, đó là đặc tính chung cho thế kỷ XV. Các thầy Eckhart, Tauler, Ruysbroeck . . . từng khai phá một chủ trương mới về sống đạo. Ðây là một định hướng thần học mới sẽ quyết định vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh đi đến kết hợp với Thiên Chúa đến muôn đời (Ga 20, 31).Ngay nửa đầu thế kỷ XV, thần học Ðức (theologia germanica) hô lên tiếng có mặt, nhưng còn quá lạ tai dư luận, gặp nhiều tị hiềm, lại chẳng được hàng giáo phẩm biết quan tâm mà nâng đỡ và khai triển thành dòng chính cho sinh mệnh của Hội thánh.
* Cũng từng hàng thế kỷ cuối thời trung cổ, lòng đạo sa sút trầm trọng, đòi hỏi bỏ cũ, đổi mới đã được ươm gieo rộng rãi. Nếp sống văn hóa của xã hội châu Âu thay đổi rộn ràng lắm rồi. Rồi mọi tầng lớp trong giáo hội đều nôn nóng đòi hỏi cải cách và cải cách có phương pháp. Không phải chỉ mong ngóng nơi một công đồng và nơi vị giáo hoàng. Người ta thấy “công cuộc cải cách phải bắt đầu từ gốc rễ, ngay ở phạm vi nhỏ, với các người sùng mộ đòi quan tâm đến sự nên thánh nơi cá nhân, với công tác bác ái, và hoạt động tông đồ vận hành ngay chính dòng tu của mình hoặc giáo xứ của mình vào cuộc”. Một sử gia đã tóm lược đường lối cải cách nơi các dòng tu như sau: “Trong các cộng đồng tu trì, công cuộc cải cách luôn luôn đòi trở lại lý tưởng nguyên thủy của dòng tu và canh tân nếp sống chung, cầu nguyện chung và chung bàn ăn uống” In religious communities it invariably meant returning to the original ideals of the order and a renewal of the common life, common prayer, and common table” (v. Bokenkotter, ocit. pag 182).
Tuy nhiên, mọi nỗ lực cải cách như vậy xem ra vẫn loay hoay chưa khêu được trúng đầu mối thích hợp và không đem lại hiệu quả mong đợi!
19. Thiếu hẳn một nền giáo dục phổ thông về khoa thần học tu đức thần bí.
Chưa nhìn nhận vai trò của Chúa Thánh Linh trong từng hành vi đức tin, trong từng việc làm làm lành, lánh dữ (I Cor 12, 3). Không đề cao đúng mức nguyên lý theo đó” con người trở nên công chính nhờ đức tin hơn là nhấn mạnh vào việc làm” (Nichola of Cusa). Chỉ lệch một chút cán cân đó là đủ gây đại họa. Quá mê mải việc hành hương, theo đuổi lối sùng mộ gương ông thánh này, bà thánh nọ, còn nặng về nghi thức giữ đạo bên ngoài, trọng xây cất đền thờ nguy nga, tráng lệ để ban & nhận ân xá hơn là lo thay đổi nếp sống đạo đi vào nội tâm nơi chủ-thể con người (x. H.Jedin, History of Church, pagà). “Những điệu bộ và dấu hiệu đức tin được lặp lại đặc biệt nơi các thực hành sùng mộ, nhưng chúng lại không tương ứng thực sự với nội dung lòng tin qui chiếu trung thành vào ngôi vị Ðức Giêsu”. Chưa dạy Dân Chúa sống phân biệt rành rẽ ơn thánh sủng (grâce habituelle) và ơn hiện sủng (grâce actuelle) vv . . .
* Dòng thánh Brunô (+1101) muốn ẩn dật cô tịch để tìm Thiên Chúa nơi nội tâm, nhưng vẫn không sao dò ra đầu mối cho một lịch trình phát triển thần bí có bài bản diễn tiến.
Trường phái Noi Gương Chúa Giêsu đòi hỏi tu đức soi vào nội tâm (Christian inwardness, x. Bokenkotter, A Concise History of the Catholic Church, pag. 183, 254). Ðòi hỏi đổi hướng thần học từ kinh viện đi vào nội tâm để khai phá sang định hướng thần học thần bí đó chăng? Bước đi mới lạ quá chưa từng có cho lịch sử kitô giáo. Nó gây đứng thở.Chẳng biết có khả năng khai phá một linh đạo có bài bản diễn tiến ra sao chăng? Trường phái Sách Noi Gương Chúa Giêsu trong thực tế chưa thể khai mở ra con đường tu đức nội tâm diễn biến theo lịch trình cụ thể nào. Một bế tắc lớn lao, một thách đố chưa sao vượt qua được (Thái Bình 1953-54).
Suốt hai thế kỷ XIV và XV, các dòng tu đều loay hoay thử nghiệm cải cách đường lối tu trì, nhưng hết thảy không sao dò ra đầu mối một linh đạo tu đức thần bí có bài bản giáo khoa thích đáng.Loại dòng tu chuyên về phụng vụ như Biển Ðức ố cây đại thụ- cũng lo cải cách nhưng không gắn thêm vào phụng vụ mục tiêu thăng tiến đời sống thần bí. Vài ba tu đoàn có gốc phụng vụ cũng muốn cải cách đường hướng tu trì nhờ hậu cảnh nhân bản nơi thánh Augustinô, nhưng rồi cũng chưa đi đến đâu.
Tóm lại, chủ trương thần học tu đức thần bí mới chưa nổi lên thành một định hướng đủ tầm vóc đóng vai nối tiếp và thay thế chức năng cùng vai trò lịch sử của thần học kinh viện! Do đó một định hướng tu trì mới cũng chưa thể xuấạt hiện theo để cứu nguy vận mệnh Hội thánh Ðức Kitô? (26 Nov.08)
20. Không lưu ý tới chức năng và vai trò của các ơn đoàn sủng (Rom 12, 4-8).
Giáo triều Rôma giữ độc quyền cai trị, nhưng rất lúng túng gần 30 năm trời mới triệu tập một công đồng, lại thiếu sự hiện diện trong giáo luật một cơ chế tiêu biểu cho hệ đoàn sủng (ordre charismatique) đóng vai trò cố vấn cho hệ phẩm trật . . . Hàng phẩm trật tại nhiều nước châu Âu cũng vật lộn với vấn đề cải cách, nhưng kết quả xem ra chẳng sao xoay nổi thời thế.
* Ðây có phải chúng ta ngày nay như đang lần mò đan lại các cụm mắt lưới thành từng mảng cho phần vận mệnh thần bí của Hội thánh nằm giữa thời cuối trung-cổ và thời hiện đại chăng? (21 Nov. 08)
21. Công Ðồng Trentô không đáp ứng được nhu cầu phát triển vận mệnh sống đạo của Hội thánh.
Bản Tuyên xưng đức tin theo Công Ðồng dạy tín lý thật đúng nguyên tắc, rất đúng tín lý. Tuy nhiên Bản Tuyên xưng đức tin theo Công đồng Trentô là một bản tuyên tín không mấy hợp thời, vì không đáp ứng khát vọng rất chính đáng, khát vọng sống đạo của Dân Thiên Chúa. Dân Thiên Chúa thời hiện đại đòi có một hiến chương sống đạo cho phép mở ra mô thức mới cho cuộc sống, một kỷ nguyên mới về thần học cóÔ hậu cảnh văn hóa không còn là văn hóa La-Hy nữa. Vị trí của Công Ðồng Trentô đóng vào thời điểm lịch sử có ý nghĩa rất hệ trọng. Ðó là thời điểm đòi hỏi thiết định bản lề vận mệnh Hội thánh.
Những cải cách về nếp sống quản trị Giáo hội tuy thật cần thiết, nhưng vẫn chỉ là những cải cách cục bộ, không nhắm vào đòi hỏi tâm điểm đời sống. Ðiều cần thiết hơn hết cho Giáo hội là cần có một mô thức mới về tổ chức lại Giáo hội từ ngàn xưa vốn nặng về tổ chức cơ chế phẩm trật.
Những cải cách buổi đầu có đem lại nhiều kết qủa thiết thực nhưng không đáp ứng nổi đòi hỏi thiết yếu hàng đầu. Thực sự là thiếu một mô thức để cải cách lại toàn bộ nếp sống của Hội thánh Ðức Kitô. Ðó là cải cách toàn diện và cải cách một cách có hệ thống, cải cách một cách triệt để nhờ đến mô thức mới về Giáo hội là Nhiệm thể Chúa Giêsu. Những hậu qủa tai hại đã xảy ra làm vận mệnh Hội thánh không dễ khai thông được. Ta có thể lấạy một thí dụ cụ thể từ lãnh vực y học làm gương học hỏi về sự chữa chạy theo hiện tượng hơn là soi sâu vào bản chất con bệnh. Việc chữa bệnh sưng nhiếp hộ tuyến cung cấp một thí dụ cụ thể.
Nhiếp hộ tuyến là một tuyến có hình bằng cỡ trái bồ đào (walnut) bao quanh đường tiểu tiện nằm ngay phía dưới bọng đái. Bệnh sưng phì đại các tế bào nhiếÔp hộ tuyến gây ra chứng bí tiểu tiện. Mắc chứng này, ai đời nào mà chẳng nghĩ ngay tới chuyện chữa trị khối tế bào nhiếp hộ tuyến bị sưng đó. Nhưng chữa chạy trực tiếp như thế chỉ là chữa hiện tượng bên lề dễ thấy ngay trước mắt, chữa bệnh chưa nhắm trúng nọc. Bao nhiêu đời trôi qua, chữa bệnh sưng nhiếp hộ tuyến không kết qủa. Gần đây “Trung tâm nghiên cứu về sự lão hóa của tinh hoàn” mới khám phá ra nguyên nhân đích thực và ẩn khuất của bệnh sưng nhiếp hộ tuyến là tại sự lão hóa tinh hoàn. Khám phá mới mẻ này đã được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận năm 2003. (07.2007)
Cách chữa bệnh tương tự như thế phải chăng cũng xảy ra với Công Ðồng Trentô. Những biện pháp cụ thể từng được Công Ðồng Trentô sử dụng để trực tiếp chống trả lại Phong trào Tin lành, chúng ta đọc thấy rất là thiết thực. Nào là qui định sổ bộ kinh thánh, qui định các bí tích, sửa trị kỷ luật, bác bỏ nhiều điều sai lạc của Phong trào cải cách, thiết lập chủng viện, bàn thảo về ơn công chính hóa à Các biện pháp cải cách minh định nhiều vấn đề giáo lý và kỷ luật cần thiết hiển nhiên không chối cãi được.Tuy nhiên các giải đáp thiếu hẳn viễn kiến sống đạo thần bí có chiều sâu và viên mãn (Eph 4, 13). Hơn nữa, lại không nhắÔm trúng căn tính sống mầu nhiệm công chính hóa làm chủ đề trung tâm cho thời cuộc. Tai hại nhất là không giải thích ơn công chính hóa theo phương diện là mầu nhiệm sống đạo. Công Ðồng Trentô bế mạc từ năm 1563. Ðã gần bốn thế kỷ rưỡi trôi qua, đại kết giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma vẫn chưa có chỉ dấu lập lại được. Chưa thấy có dấu hiệu nào cho phép nhìn ra trúng hướng cải tạo vận mệnh thần bí Hội thánh. Chưa có ánh sáng nào hé mở tìm ra giải pháp đại kết nhờ hướng sống tu đức thần bí. Xướng xuất cuộc cải cách, ông Luther ném ra một bộ lưỡi câu có ngạnh hiểm hóc! Cá nuốt vào nhả ra không nổi.
Các biện pháp cải cách của Công Ðồng Trentô không nhắm trúng căn bệnh về sống đạo. Công Ðồng Trentô đã giải thích ơn công chính hoá một cách phiến diện, tước bỏ hẳn bản chất ơn công chính hoá không còn là một mầu nhiệm sống đạo. Ơn công chính hóa có một nội dung đòi thánh hóa, và là một nguyên lý sống đạo. Nội dung đó đòi hỏi mở ra một mô thức sống đạo mới mẻ và cho phép khai triển ra một linh đạo, một qui trình phát triển vận mệnh thần bí cho cá nhân người tín hữu kitô.
Nguyên lý thánh hóa đồng thời còn mở ra một qui trình phát triển vận mệnh thầợn bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể với nhiều mô thức tổ chức và sinh sống trong dòng lịch sử cụ thể sau này. Chỉ giải thích ơn công chính hóa là một tín điều suông, đó khác nào là bóc hết sức sống mầu nhiệm sống đạo nơi người tín hữu cá nhân và đồng thời bóc cả sức sống sinh động nơi bản thân Hội thánh-Nhiệm thể.
Nhà thần học kinh viện chớp thư Rôma chương I, câu 17 như là một tín điều rồi cứ chiêm niệm theo, với một nhân sinh quan tĩnh lặng, gần như chẳng còn biết cảnh sống thực tại nữa.
Ðức Giêsu là Chân lý nhưng Ngài đâu chỉ là chân lý mà thôi? Ðức Giêsu Kitô còn là Nguồn sống, nguồn sự Sống đời đời (Ga 14, 6).Khi giải thích ơn công chính hóa chỉ là một tín điều, Công Ðồng từ bỏ viễn tượng cải tạo và phát triển vận mệnh thần linh người kitô, đồng thời cũng bác bỏ việc cải tạo vận mệnh thần bí con người Tin lành và chẳng quan tâm gì đến vận mệnh thần bí, cộng đồng của chính Hội thánh-Nhiệm thể. Sức sống dồi dào của Ðức Kitô (Ga 10, 10) không được Hội thánh lưu tâm khai triển hợp môi trường văn hóa- xã hội mới của loài người.
22. Vai trò và sự nghiệp Công Ðồng Trentô phải chăng còn dang dở?
Ðối phó với bệnh khủng hoảng Wittenberg, nay đã thấy rõ vai trò Công đồng Trentô không phải là không có nhiều kết qủa. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng của Hội thánh sau thời kinh viện trung cổ thì sâu rộng hơn nhiều. Còn phải xét lại vai trò và sự nghiệp Công Ðồng Trentô. Năm thế kỷ trôi qua nữa, giáo triều chưa định bệnh và chưa tìm ra bài thuốc thích hợp cho công cuộc đại kết. Dịp nhận quyền lãnh đạo Hội thánh 30 năm trước đây, vị giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã thành thật thú nhận rằng: Chắc chắn trong hoàn cảnh lịch sử hiện nay của kitô giáo và của thế giới, không có khả năng nào khác để hoàn thành sứ mạng phổ quát của Giáo hội trong những gì lên quan đến đại kết ngoài việc nối tiếp các công tác sẵn có. Nói thế, hẳn vị Giáo hoàng Gioan-Phaolô II chỉ trông vào việc đối thoại thông thường đang có hiện nay giữa Công giáo và Tin lành.
Ủy Ban thần học của Công Ðồng nặng nợ suy tôn thần học kinh viện. Do đó, Công Ðồng Trentô không chấp nhận khai triển sức sống đạo cho phép mở ra kỷ nguyên mới cho Hội thánh phát triển theo mô thức khác với mô thức cơ chế phẩm trật cai trị. Công Ðồng Trentô không giải quyết tận căn vấn đề hóc búa. Theo di sản thần học Cựu Ước, Giáo hội được gọi là toà nhà của Thiên Chúa (1Cor 3, 9). Giáo hội được trình tả bằng hình ảnh cánh vườn, hoặc là lâu đài theo văn hoá tri giác (culture perceptioniste) cổ Do thái rất nặng óc cụ tượng, thô sơ. Lịch sử nhân loại thời nay từng bước qua tuổi đời (kỷ nguyên) văn hóa tri giác cũng từng bước khỏi tuổi đời (kỷ nguyên) văn hoá siêu hình học và đi vào tuổi đời (kỷ nguyên) văn hoá thực nghiệm nhân bản và thực nghiệm khoa học. Giáo hội cần sống với giáo lý mới về Hội thánh theo đúng kinh thánh hơn trước. Các thế hệ loài người thời nay được ném vào sống trong khung cảnh văn hóa thực nghiệm khoa học và thực nghiệm nhân văn & nhân bản. Có hiểu như thế, chúng ta biết phải ứng xử thế nào cho thích hợp và cuộc đời mới dễ thành thân.
Nhà thờ và Hội thánh thật khác xa nhau. Hội thánh không phải chỉ như một ngôi nhà thờ xây dựng bằợng gạch đá theo vũ trụ quan tĩnh và nhân sinh quan tĩnh (Hc VMHV 4-5).Văn minh kiến trúc và luật học cổ La mã hãy trả lại cho Hội thánh Ðức Kitô môi trường với sức sống mầu nhiệm sinh động nguyên thủy. Hội thánh cũng không phải chỉ là một cộng đồng được tổ chức theo cơ chế phẩm trật cứng ngắc. Hội thánh là một chủ thể hiện sinh, một chủ thể hiện sinh cộng đồng trong bậc siêu nhiên. Hội thánh đích thực là Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu với sức sống phong phú và mạnh mẽ hơn lửa (Rom 12, 4-8; Col 1, 18-19). Ðương thời, Công Ðồng Trentô chưa có đưa ra được một định nghĩa về Hội thánh. Giáo hội chỉ quen quan niệm Hội thánh qua các hình ảnh tiêu biểu được dùng trong kinh thánh mà thôi. Thời Công Ðồng Trentô, Hội thánh Ðức Kitô chưa bước vào kỷ nguyên sống đời thần bí chuyên sâu. Dùng hình ảnh Nhà thờ để chỉ Hội thánh, cách sử dụng ấy thiếu tính nhân bản!
Theo lập luận vừa nêu trên, chỉ giải thích ơn công chính hóa nơi người con cái Thiên Chúa là một tín điều, thế là đã bóc lột mất sức sống thần linh nơi mỗi cá nhân người tín hữu. Tất nhiên lối giải thích què quặt mầu nhiệm công chính hóa cũng bóc lột sức sống thần bí đối với bản thân Hội thánh Trong trường hợp này, khả năng luận lý trừu tượng hoá (abstraction) theo siêu hình học đã bóc lột Hội thánh Ðức Kitô mất sức sống mầu nhiệm đầy sinh động. Siêu hình học có mặt trái của chiếc mề-đay, có phần gài bẫy các nhà thần học kitô giáo. Thật không ngờ thế!
Thiếu một nền thần học về phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh từ sớm đã để Phong trào Tin lành đi long rong. Năm thế kỷ nay, sự thiếu vắng đó là thiếu phương thức cải hóa Anh em Tin lành và thiếu phương hướng cải tạo chính bản thân Giáo hội nữa.
Công Ðồng Trentô thiếu phương hướng nhận định về vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh.Thời đó là thời đại đang lên của mô thức cơ chế phẩm trật.
Reflections and Reassessments after 30 years
Suy gẫm và Tái thẩm định sau 30 năm
(Xem Bill Laurie)
Kết luận
Làm mục vụ cần biết con chiên:” Người chăn chiên tốt chính là Ta. Ta biết chiên của Ta, và chiên Ta biết Ta” (Ga 10, 14). Giáo triều Rôma và hàng giáo phẩm cơ chế tại xã hội Ðức thế kỷ XVI không hiểu biết đàn chiên, không thấu hiểu thầm vọng chính đáng về nhu cầu sống đạo của Dân Thiên Chúa cuối thời trung cổ, vào các thế kỷ XV và XVI. Các thế kỷ giữ vai trò bản lề vận mệnh Hội thánh giữa hai kỷ nguyên Tin đạo và Sống đạo.
Ngày nay Công Ðồng Vaticanô II đã khẳng định còn phải tìm hiểu sâu rộng về các anh em ly khai Tin lành (SL Hiệp nhất, 9). Như thế là nhằm để đối thoại giữa hai bên Tin lành và Công giáo Rôma. Nhưng thế thôi cũng chưa đủ.Ngày nay, Hội thánh Ðức Kitô còn phải tìm hiểu sâu xa về bản thân. Hội thánh có một vận mệnh lịch sử. Hơn thế nữa Hội thánh còn có một vận mệnh thần bí, cộng đồng. Theo vận mệnh thần bí ấy, Hội thánh có tuổi đời được coi là bản lề vận mệnh của Hôi thánh, vào thế kỷ XVI. Ðúng lý ra Công Ðồng Trentô là một công đồng bản lề của vận mệnh Hội thánh. Bản lề ấy chia đời sống của Hội thánh Ðức Kitô thành hai phần: Tin đạo và Sống đạo. Vị trí của Công Ðồng Trentô khai mở kỷ nguyên sống đạo.
Công Ðồng Trentô không quan tâm khai mở đầu mối mới về sống đạo. Ðầu óc nhà cai trị không mấy ưa đi tìm ý hướng sống đời thần bí: sống đạo. Sống đạo là đầu mối mới nối tiếp và thay thế đầu mối biết đạo & theo đạo thời trung cổ & thượng cổ. Nguyên nhân là vì nhà mục vụ thiếu quan tâm đến sống đời tu đức thần bí cá nhân tín hữu. Cá nhân tín hữu kitô ít ai quan tâm đến sống đời tu đức thần bí. Các chức bậc lãnh đạo cũng vậy. Hội thánh chưa hề quan tâm đến sống đời thần bí, cộng đồng của Hội thánh. Năm thế kỷ nay xảy ra đầy rẫy các sai lầm về mục vụ chồng chất theo từng diện, từng ngành văn hóa mới: khoa học, chính trị, xã hội, văn nghệ, học thuật và cả thần học nữa. Nguyên nhân cũng vì Hội thánh chưa quan tâm đến phương hướng sống đời thần bí, cộng đồng.
Nay có dấu chỉ mới mẻ nào vẽ ra đường hướng phát triển vận mệnh Hội thánh không? Công Ðồng Vaticanô II nói đến giáo lý mạc khải Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu. Phải chăng đây là dấu chỉ lấy đó làm mô thức mới cho việc phát triển Hội thánh. Giáo lý Nhiệm thể Chúa Giêsu được đặt làm chủ đề trung tâm cho các văn kiện của Công Ðồng Vaticanô II. Nếu đúng thế, giáo lý mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu thiết dựng cột mốc mới cho công cuộc phát triển vận mệnh thần bí Hội thánh. Ðang có một phép lạ âm thầm xảy ra trong Hội thánh Ðức Kitô. Những ai có đức tin sâu xa thì dễ nhận ra phép lạ ấy.
Mặt khác, dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Linh, Công Ðồng Vaticanô II cũng đã truyền dạy cho toàn Dân Thiên Chúa chung sức xây dựng một tổng hợp thần học mới với nền văn hoá thực nghiệm hiện đại làm hậu cảnh cho tổng hợp thần học mới này (Hc. VMHV 44). Cái nhìn mới lạ của Công Ðồng là dấu chỉ cho phép mở ra cho Hội thánh Ðức Kitô một kỷ nguyên khác với kỷ nguyên thần học trước. Kỷ nguyên mới này nối tiếp và thay thế vai trò của kỷ nguyên thần học kinh viện.
Nguyện xin Thần Khí Thiên Chúa soi dẫn ngày càng thêm đông đúc nhiều linh hồn được sống sung mãn theo giáo lý mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu. Nhờ thế Hội thánh Ðức Kitô phát triển vận mệnh trưởng thành hơn hầu thực hiện dần cuộc đổi đời thần bí và xóa bỏ được cuộc đời cằn cỗi hiện nay.
Xin chớ quên rằng: không giải thích ơn công chính hoá là một mầu nhiệm sống đạo thì không sao mở ra con đường cải cách sống đạo. Sẽ không có linh đạo cho cá nhân người kitô sống đạo, và cũng chẳng thấy linh đạo cho Hội thánh phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của mình để lo đổi đời theo đó.
Phải chăng là trước đây con bệnh chưa gặp thầy, gặp thuốc?
Viễn Việt
Người nghiên cứu canh tân khoa giáo hội học
Ghi chú
Ðề tài Nhận định về Công Ðồng Trentô này (năm 2007) đánh dấu sự thay đổi của tôi trong cách nhận định về vai trò Công Ðồng Trentô. Tôi không còn ngây thơ như năm chục năm trước nữa, nay biết phê phán sát sườn một Công Ðồng mà Giáo hội Rôma vốn coi là rất mực hệ trọng trong lịch sử Hội thánh hiện đại.
Sự thay đổi nhận định xảy ra sau dịp xuất bản vào năm 2003 cuốn Ðịnh Bệnh chia rẽ ki-tô giáo giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma, sau khi đọc lại ba tác phẩm của nhóm Hubert Jedin, của nhóm The New Catholic Encyclopedia, và của sử gia John Dwyer. Họ có óc phê bình xét lại (révisionisme) và nhận định rằng ông M. Luther có lối nhìn mới về ơn công chính hóa khác với Công Ðồng Trentô. Sau Công Ðồng Vaticanô II, giới công giáo đã có sự xét lại ông Luther và Phong trào Tin lành.
• Có nên đổi nhan đề trên đây thành “Nhìn lại Công Ðồng Trentô” không?
Hay là Ðánh giá lại sự nghiệp của Công Ðồng Trentô? (12/2007)
* Ngày 12.7.2007 đã có đề tài: giải thích ơn công chính hóa theo hai chiều hướng thần học: kinh viện và hiện hữu (existentialiste) hậu kinh viện.
• Ðánh gía:“Nhận định lại Công Ðồng Trentô”ạ là đề tài nhật ký thần học quan trọng nhất trong năm 2007. (31/12/2007)
* Phải chăng nên chú tâm giải thích nạn bế tắc phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể? (18.9.07)
* Có hai lối định nghĩa về sự vật, một theo lối luận lý của siêu hình học, một theo lối suy luận của triết học hiện sinh & nhân bản. Không thể không áp dụng lối định nghĩa thứ nhì vào trường họp các chủ thể hiện sinh hữu thức. Nên sử dụng lối định nghĩa mới để giúp dễ nhận ra ơn công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo.
* Tiêu đề mới “Giáo hội và cuộc khủng hoảng Sống Ðạo hiện đại”.
Kỷ nguyên sống đạo thời nay, con người tín hữu thường xuyên phải lo đáp trả theo ơn hiện sủng (grâce actuelle) từng giây phút do Chúa Thánh Linh máy động. Ðó là nguyên lý quyết định! Chị thánh Têrêsa HÐG để lại cho đời một châm ngôn tuyệt diệu: từ ba tuổi, con không từ chối Chúa điều gì.
Lưu ý 1.
Công Ðồng Trentô quá thu hẹp giáo lý ơn công chính hóa nên kết qủa của Công Ðồng cũng bị hạn chế bấy nhiêu.
Có nên gọi cuộc khủng hoảng chia rẽ Phong trào Tin lành với Giáo hội công giáo Rôma là cuộc khủng hoảng Wittenberg? Nếu gọi tên đó, chẳng hoá ra chỉ cần giải quyết những sai khuyết của Phong trào Tin lành, cách riêng nơi ông Luther là xong chuyện sao? Khủng hoảng chia rẽ Hội thánh Ðức Kitô vào thế kỷ XVI có nguyên nhân sâu xa, đòi khai phá một định hướng thần học mới và đòi mở ra một kỷ nguyên thần học mới với mô thức mới về Hội thánh là Nhiệm thể Chúa Giêsu. Viễn tượng ấy chính ông Luther và cả Công Ðồng Trentô cũng chưa dễ gì phát hiện ra! Nhưng ngày nay định luật giáo sử Bônifaxiô mới mẻ có khả năng cho phép khám phá ra kỷ nguyên thần học mới, thần học hậu kinh viện.
(10. Sept. 2007)
2. [Cần sớm đọc nguyên bộ văn kiện Công Ðồng Trentô mới viết nhận định được càng thêm chính xác hơn về Công Ðồng đó!]
3. Ngày 12.07.2007 đã có đề tài: Giải thích ơn công chính hoá theo hai định hướng thần học kinh viện và thần học hậu kinh viện.
4. Cần đưa ra định nghĩa mới về ơn công chính hóa.
5. Cần đưa ra quan niệm mới về Giáo hội học. Ðịnh nghĩa về giáo hội học còn phải bao gồm cả phần hiện sinh (existence) của Giáo hội, tức sự phát triển vận mệnh Giáo hội và cách ứng xử với nhau trong các Giáo hội.
Coi đây như bản phác thảo một bài thuyết trình
Có nhiều ý trùng lấp!
Phụ Lục I.
Giáo lý về ơn công chính hóa
(Lấy nốt và ghi nhanh - 7.2007)
A/ ”Công Ðồng (Trentô) phải đối mặt với phần việc khó khăn nhất của mình: định nghĩa về giáo lý ơn công chính hóa” (The Council was confronted with its most difficult assignment: the definition of the doctrine of justification). Nhóm sử gia công giáo người Ðức do linh mục Hubert Jedin chủ biên nhận định như thế rồi họ viết tiếp trong bộ giáo sử rất thời danh:
“Ông Luther bắt đầu việc chỉ trích . . . và khởi xướng một lối nhìn mới về ơn công chính hóa” (Luther began to criticize . . . and to promote a new view of justification) . . . Lối nhìn mới ra sao? So sánh với lối nhìn cũ như thế nào?
Ơn công chính hóa là một giáo lý, là một nguyên lý hay còn là một mầu nhiệm sống đạo nữa? Suốt mấy thế kỷ nay chỉ đứng lại mà đắn đo với lối nhìn cũ sao?
Phải chăng triết học kinh viện đã thu hẹp quan niệm về ơn công chính hóa, không bao gồm được cả bình diện là mầu nhiệm sống đạo? Không đáp ứng nhu cầu sống đạo, sống đời công chính hóa. Công chính hóa nơi thư Rôma là một mầu nhiệm sống đạo. Tiếc thay, với lối nhìn trừu tượng hóa (abstraction) theo văn hóa siêu hình học, Công Ðồng Trentô đã lột mất sức sống mầu nhiệm về ơn công chính hóa! Chỉ nguyên tám chương đầu thư Rôma cũng giảng dạy một linh đạo sống đời công chính hóa với nhiều tuổi đời thần bí. Cần phục hồi lại lịch trình sống đời công chính hóa xuyên suốt nơi thư Rôma.
B/ “The decree of Justification essentially sums up and reformulates the doctrine of the precedent centuries, particularly that of the Councils of Carthage against Pelagianism and of Orange against Semi-Pelagianism. Nothing substantial has in fact been added to the Church’s teaching since Trent except for what a better understanding of Martin Luther’s teaching made possible after the Second Vatican Council.” (The New Catholic Encyclopedia, vol. 8, pag. 85).
Nói tới bè Pêlagiô và Á-Pêlagiô, chúng ta cần lưu ý tới quan niệm của họ khác biệt ra sao với đạo lý cứu độ theo ông Luther, chuyện sẽ nói sau. Xin trở lại ngay với vấn đề giải thích ơn công chính hóa đang được đề cập nơi đây.
Biết bao hậu qủa tai hại đã xảy ra với cách giải thích hẹp hòi ơn công chính hoá chỉ đơn thuần là một tín điều!
Triết học kinh viện lột hết các điều kiện hiện sinh của vạn vật để rút ra ý niệm trừu tượng (idée abstraite) và phổ quát (universaliste). Nhà thần học kinh viện dễ sa vào chỗ rút hết các đìều kiện hiện sinh siêu nhiên của Hội thánh! Do đó rút ơn công chính hóa mất hết sức sống sinh động, mầu nhiệm. Vì thế, Công Ðồng Trentô thời đó cũng không dễ gì định nghĩa chính xác được ơn công chính hóa! Thậạm chí vào thời của mình, Công Ðồng Trentô cũng không có được một định nghĩa về Hội thánh (The New Catholic Encyclopedia, q.14, trang 170).
Thần học của Giáo hội Rôma không nhận thức nổi khát vọng nơi các giáo hội vùng ngôn ngữ Ðức và ngôn ngữ Anh, tiêu biểu cho khu vực Bắc Ðại tây dương. Họ khát vọng sống đời công chính hóa với mô thức sống đạo khác với mô thức công giáo cổ Hy-La. Làm sao Công Ðồng Trentô với ủy ban cố vấn thần học ba mươi tư nhà thần học kinh viện trong Công Ðồng hiểu ra tâm tư và nguyệỳn vọng trào lưu Lối Sùng Mộ Mới (Devotio Moderna) cùng ông Luther và Phong trào Tin lành. Hay là tại Công Ðồng thiếu những vị có đặc sủng tiên tri (Eph 4, 11) giúp nhìn trước được cả hậu vận thiêng liêng của Hội thánh nữa?
C/ Ông Luther khởi xướng việc đề cao ơn công chính hóa, đó là đi theo truyền thống sống đạo của dòng kitô giáo Nhật nhĩ man. Từ thế kỷ XIV, tại giáo hội Ðức đã có lối thần học Ðức với các bậc thầy như M. Eckhart, Tauler, Ruysbroeck . . . có định hướng đề cao công trình thánh hóa con người cụ thể (sanctification). Luther người đầu tiên xuất bản tác phẩm mang tựa đề thần học Ðức (Theologia germanica) của một linh mục ẩn danh thuộc dòng tu Teutonics tại tu viện Sachsenhausen. Ðó cũng là cách đòi trả lại cho thư Rôma một định nghĩa đầy đủ về ơn công chính hóa. Ơn công chính hóa là một giáo lý, nhưng không phải chỉ rút vào lối suy luận thần học kinh viện. Công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo phong phú cho người tín hữu. Chỉ coi công chính hóa là tín điều thì hậu quả trước mắt là chưa hiểu đến nhu cầu đòi hỏi việc sống đạo phải đi vào nội tâm tín hữu (Ga 4, 21-23) và đi vào nội tâm chính Hội thánh nữa. Không phải chỉ lo “tìm định nghĩa” về công chính hóa, điều thời nay cần hơn nữa là nêu lên nhu cầu sống mầu nhiệm công chính hóa . Chiêm niệm thôi là chưa đủ, còn phải sống đạo nữa: mến Chúa hết lòng hết sức, hết . . .
D/ Ủy ban thần học của Công Ðồng Trentô không nhìn ra nơi thư Rôma một linh đạo sống đời công chính hóa. Công Ðồng Trentô không bắt mạch được vận mệnh Hội thánh vào thế kỷ XVI đòi chuyển biến từ giữ đạo sang sống đạo theo mô thức mới và có qui trình phát triển vận mệnh Hội thánh cụ thể.
ẶThư Rôma vừa là một đạo lý chìa khóa tín lý về ơn công chính hóa (justification) lại vừa là một lộ trình sống đời công chính hóa viên mãn qua nhiều tuổi đời tu đức thần bí khác nhau. Thư Rôma không chỉ như một thiên trường ca tín điều công chính hóa như thời trung cổ quen một chiều đề cao theo lối thần học kinh viện. Thư Rôma trưng nhiều cột mốc cho sự hiện thực (actualiser) một linh đạo phát triển đời sống công chính hóaÃ
Mầu nhiệm sống công chính hóa nơi thư Rôma là chủ đề hàm chứa một lộ trình sống đời công chính hóa có thể mở ra cho:
1/ cá nhân người tín hữu sống theo xuyên suốt cuộc đời
2/ cộng đồng Hội thánh (xét theo là một chủ thể cộng đồng) sống theo xuyên suốt cuộc đời của Hội thánh gồm nhiều kỷ nguyên thần học liên tiếp nhau.
Năm 2005, một tín hữu kitô người Việt Nam đã xuất bản tác phẩm “Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu”. Tác phẩm đọc ra từ thư Rôma (Rom 1, 17) một mô thức phát triển vận mệnh thần bí cho cá nhân tín hữu gồm nhiều tuổi đời thần bí (x. Viễn Việt, Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu, trang 33-36).
Ðồng thời tác phẩm cũng đọc ra từ thư Rôma một lịch trình phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh với nhiều mô thức phát triển liên tiếp nhau, theo những tuổi đời thần học lâu dài (tức các kỷ nguyên thần học) của Hội thánh. Ít ra nay đã có hai mô thức: Hội thánh phẩm trật và Hội thánh-Nhiệm thể.
E/ Công Ðồng Trentô hồi giữa thế kỷ XVI đã không nắm bắt được đầu mối Sống Ðạo nơi ông Luther, cũng chẳng nắm bắt được khát vọng sống đạo nơi các giáo hội Bắc Ðại tây dương. Do đó không mở ra cho người tín hữu cá nhân một lộ trình sống đạo với nhiều tuổi đời tu đức thần bí. Công Ðồng không làm được thế, thì sáu mươi năm sau vụ 1517, Thần Khí Chúa phải ra tay cứu Hội thánh. ÐấngThần Khí mạc khải cho Giáo hội Kitô qua MẹTêrêsa Avila một linh đạo tu đức gồm bảy bậc cầu nguyện liên tiếp, tiêu biểu cho bảy bậc thần bí nơi cá nhân người tín hữu kitô. Ngày nay tín hữu kitô nào từng kinh qua vài ba bậc cầu nguyện thiên phú (contemplation infuse) theo linh đạo Cát minh đều như chết đứng trước sự thiếu sót của Công Ðồng Trentô, vì Công Ðồng không khai triển mầu nhiệm công chính hóa theo hướng sống đạo! Ðáp ứng được khát vọng sống đạo khối Bắc Ðại tây dương thời nay là đáp ứng được nguyện vọng thế giới công giáo hoàn vũ.
F/ Hồi thế kỷ XVI, Công Ðồng Trentô đã không mở ra cho Hội thánh (theo tư cách là một cộng đồng) một linh đạo (mô thức & qui trình) sống đời công chính hóa có tính chất cộng đồng xuyên suốt cuộc đời lưu đày với nhiều kỷ nguyên thần học. Cho tới nay, phải chăng Hội thánh Ðức Kitô vẫn thiếu trước mắt một lộ trình phát triển đời sống công chính hóa trải ra nhiều tuổi đời tu đức thần bí -tức nhiều kỷ nguyên thần học- xuyên suốt cuộc sống lưu đày trần thế?
* Trong thực tế, Công Ðồng Trentô chỉ tóm kết (sum up) cốt yếu giáo lý tín lý về ơn công chính hóa từ các công đồng thời trước như công đồng Carthage và công đồng Orange xa xưa. Công Ðồng Trentô không dạy thêm được điều cốt yếu (substantial) mới mẻ nào và càng không hề hé mở đầu mối cho bước phát triển cuộc đời sống theo ơn công chính hóa con người và chẳng thiết lập đầu mối mới cho sự phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể.
Như vậy, Công Ðồng Trentô không dễ đáp ứng được khát vọng sống đời công chính hóa (Mt 5, 6) xuyên suốt cuộc đời cá nhân tín hữu kitô như thần học Ðức (theologia germanica) mong ước. Ðồng thời Công Ðồng Trentô cũng chưa thể ngờ tới nhu cầu cần có một nền thần học phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu qua nhiều tuổi đời xuyên suốt kiếp sống lưu đày trần thế này?
Bất hạnh cho ô. Luther & Phong trào Tin lành chưa gặp đúng thầy, đúng thuốc!
(Tuổi 20 tôi phải rời bỏ vị linh hướng đã chọn từ 4 năm trước. Lý do là vì vị linh hướng không chỉ giùm tôi một linh đạo tu đức thần bí gồm những giai đoạn nào để tôi lần lượt phát triển theo. Tôi bị khủng hoảng nặng nề vì thiếu lộ trình trước mắt. May mà sau đó tôi đã đơn độc tìm gặp được linh đạo bảy bậc cầu nguyện do Mẹ Têrêsa trình bày - G.G. 10 Jan. 2008)
G/ Phải quan niệm lại ơn công chính hóa từ bản chất là một mầu nhiệm sống đạo, phải phân biệt rõ rệt biết đạo với sống đạo (x. Ðịnh bệnh chia rẽ kitô giáo . . . trang 23-24). Phải phân biệt sống đạo khác theo đạo & giữ đạo. Không được chỉ coi ơn công chính hoá như là chuyện “bơi trong bể ý niệm” tín lý. Trái lại, đó là nhu cầu sống đạo theo một phạm trù “hiện sinh” (existentialiste) theo triết học nhân bản, khác với phạm trù về hữu-thể (ontologique) trong triết học siêu hình. Người ta cứ tranh cãi (bơi trong bể ý niệm) tín lý nên không tìm ra lối thoát khi đụng đầu với cuộc khủng hoảng sống đạo!
Việc đề cao ơn công chính hoá là mầu nhiệm sống đạo thật vô cùng hệ trọng vào thời điểm xảy ra cuộc thay đổi bản lề vận mệnh Hội thánh. Ðó là vào thế kỷ XVI.Các thế kỷ trước và sau kề cận khu vực bản lề này đòi hỏi Giáo hội phải lo thay đổi bản thân bằng một cuộc đổi đời tu đức thần bí nứt da vỡ thịt cam go chẳng kém gì ba thế kỷ bị cấm đạo hồi đưa đạo kitô vào đế quốc Rôma.Ba thế kỷ bị cấm đạo buổi đầu là một giá chuộc cho Giáo hội hội nhập vào thế giới văn hóa La-Hy. Cuộc khủng hoảng Wittenberg phải chăng cũng là giá chuộc cho Giáo hội Kitô hội nhập vào thế giới văn minh nhân bản & khoa học ngày nay.
H/ Trích Giáo lý công giáo, số 2690. Linh hồn nào muốn tiến bộ trên con đường trọn lành thì, theo lời khuyên của thánh Gioan Thánh giá, “phải xem xét cẩn thận mình trao mình vào tay ai, bởi vì thầy nào thì trò nấy”. Và thánh nhân còn nói:”Không những vị linh hướng phải thông thái và khôn ngoan, mà còn phải có kinh nghiệm (à). Nếu vị dẫn dắt đường thiêng liêng không có kinh nghiệm về đời sống thiêng liêng, thì ngài không có khả năng dẫn đưa các linh hồn mà Chúa gọi, và ngài cũng chẳng hiểu được các linh hồn”.
Trên đây là khó khăn cho nhiệm vụ linh hướng cho cá nhân tín hữu. Còn việỳc mục vụ“linh hướng” vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể Ðức Kitô thì sao? Mục vụ hướng dẫn Hội thánh trong thế kỷ xảy ra thay đổi bản lề vận mệnh Hội thánh thì càng khó khăn biết bao! Mục vụ định hướng lịch sử hẳn còn khó khăn gấp bội! Cứ trơ trơ ỷ lại phó mặc vào Ðấng Thầợn Khí thôi sao?
1- Không phân tích thấu đáo tình trạng xã hội châu Âu diễn biến văn hóa ra sao vào cuối thời trung cổ thì không sao nhận định ra nhu cầu đòi thay thế văn hoá cổ Hy-La. Như thế là thiếạu kiến thức về hậu cảnh (arrière-plan) văn hoá để giúp khám phá nhu cầu đòi thay đổi đời sống của Giáo hội kitô. Hơn nữa, nếu thiếu hiểu biết về hậu cảnh văn hóa thì cũng không thể phê phán chính xác về cuộc khủng hoảng Wittenberg, về chức năng, vai trò và sự nghiệp của Công Ðồng Trentô được.
2- Thời thượng cổ, hai chủng tộc dòng Hy-La từng nắm một vai trò cột trụ cho sự phát triển dòng văn hóa chung châu Âu. Thời nay các chủng tộc dòng Bắc Ðại tây dương lại được diễm phúc nắm bắt một dòng văn hoá khác cho sự phát triển vận mệnh châu Âu và cho vận mệnh chung lịch sử loài người. Ðịnh hướng văn hóa thực nghiệm nhân văn & nhân bản và thực nghiệm khoa học & kỹ thuật đang là ngọn triều chung cho cả thế giới sống theo.
3- Cuộc khủng hoảng văn hóa thực nghiệm khoa học và thực nghiệm nhân văn & nhân bản hiện đại? Ðấng Quan Phòng đã thương ban cho châu Âu khai phá một nền văn hóa mới nối tiếp nền văn hóa siêu hình học cổ Hy La.
Năm thế kỷ nay, châu Âu phải mò mẫm sống theo nền văn minh nhân bản . . . Các quan niệm về tự do cá nhân, về các cuộc cách mạng dân chủ, cộng hoà vv. . Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, nền công nghiệp. . . Tất cả là những bước tiến mò mẫm gian khổ đều phải trả giá thử nghiệm thường rất đau đớn. Sự mất quân bình, mất ổn định đem lại nhiều tai hại không thể dè trước. Biết bao trầy trật! Biết bao khủng hoảng chưa giải quyết nổi. Tất cả đã xảy ra vì không ngờ can có một cuộc đảo lộn viễn tượng nhận thức & suy luận cổ điển.
Các khủng hoảng gây khó khăn không chỉ cho vận mệnh văn hóa châu Âu, nhưng cũng gây khổ lụy ghê gớm cho bản thân Giáo hội kitô. Gần đây vị Giáo hoàng Biển Ðức XVI nhận xét: từ thời Phục Hưng, Lý trí và Ðức tin đã thành một cặp tranh hùng thật gay cấn (Thông điệp Spe Salvi 30.11.2007)
4- Trong đời sống thần bí cá nhân, người tín hữu kitô gặp phải những thử thách lớn lao xảy ra giữa tuổi đời sống theo mô thức Giáo hội phẩm trật chuyển sang tuổi đời sống theo mô thức Nhiệm thể Chúa Giêsu. Có phải cũng xảy ra những thử thách và khủng hoảng tương tự như thếÔ cho chính bản thân Hội thánh, khi Hội thánh bước vào cuộc khủng hoảng chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Công giáo Rôma không? Thưa đúng vậy, năm thế kỷ nay đang xảy ra cuộc khủng hoảng vì gặp trục trặc trong tiến trình đổi đời từ tuổi đời sống theo mô thức Giáo hội cơ chế phẩm trật (Mt 16, 18) chuyển sang tuổi đời sống theo mô thức Hội thánh-Nhiệm thể (Rom 12, 4-8). Giáo hội vẫn nguyên là Hội thánh có cơ chế nhưng có tâm hồn là Nhiệm thể Chúa Giêsu. Một cuộc đổi đời mầu nhiệm! Ðổi đời từ tuổi đời sống làm giáo dân trong Giáo hội cơ chế sang tuổi đời sống làm tín hữu chi thể trong Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu (ICor 12), đó là đi theo qui luật phát triển vận mệnh thần bí ngay nơi cá nhân người tín hữu kitô.
5. Trong cuộc thay đổi nếp sống theo mô thức Hội thánh cơ chế sang tuổi đời sống theo giáo lý mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu, người tín hữu gặp thử thách lớn. Sau một cuộc đời hăng say hoạt động tông đồ, vợ chồng anh Ranaghan bị khủng hoảng về căn tính (identité) người kitô. “Giới trẻ vẫn cảm thấy trống rỗng, thiếu động lực, mất sức mạnh, cứ như đời sống kitô hữu của họ là chuyện tự mình tưởợng tượng ra, cứ như là sinh hoạt tôn giáo chỉ là chuyện riêng tư do nơi ý chí và khả năng của mỗi người.Và họ nhận ra được rằng cuộc sống kitô giáo đích thực không thể là một sáng kiến thuần túy do con người”. Cuộc khủng hoảng sống đạo xảy ra cho anh chị Ranaghan, sau khi họ từng hăng say hoạt động công tác tông đồ, hăng say lãnh nhận các bí tích, nghiền ngẫm Lời Chúa và cầu nguyện năm này sang năm khác (x. Hồng y L.J. Suenens, Thánh Thần, Hơi thở sống động của Giáo hội, trang 90).
Cuộc khủng hoảng thần bí này xảy ra không riêng gì cho một vài cá nhân tín hữu hay cho giáo hội Hoa kỳ. Nó là cuộc khủng hoảng phổ biến như là qui luật chung cho mọi người tín hữu thời đại nhân bản ngày nay được kêu gọi tiến lên trong đời tu đức.
Các nhà thần học thần bí ghi nhận một cột mốc đổi đời. Nhờ ơn chiêm niệm thiên phú (contemplation infuse), mở ra một chân trời hoàn toàn mới lạ về Thiên Chúa, về thế giới siêu nhiên và về chính bản thân người kitô. Bản ngã biến đổi, không còn là cái tôi xưa cũ.Trước kia, họ học thuộc làu làu giáo lý: Chúa sống trong người tín hữu qua ơn thánh sủng. Nhưng nay họ cảm nghiệm được “Chúa sống trong tôi”. Một cuộc đổi đời đúng nghĩa giống như con tằm biến thành con nhộng . . .
Bệnh mất bản ngã (inhumanité?) tâm lý không dè lại cũng là một cách giúp hiểu phần nào ngược lại tình trạng thần bí mới lạ được cảm nghiệm Chúa sống trong mình người tín hữu kitô. Sau một tuổi đời chiến sĩ hoạt động tông đồ hết sức nhiệt thành như Saulô thuở nào (Cvtđ 22, 3-20), họ phải trút bỏ cái vỏ hoạt động hăng say bên ngoài mà nhận ra vai trò của Chúa Thánh Linh trong đời sống siêu nhiên hằng ngày của họ. Họ sống, nhưng không phải là họ chỉ sống bởi họ (Gal 2, 20). Nay đến lúc họ được diễm phúc nhận thực ra vai trò của Chúa Thánh Linh. Người là hồn sống của họ. Mỗi một lần có ý thức, mỗi hành động, mỗi ước muốn siêu nhiên của họ, thảy đều hiện thực được thành sự là do Chúa Thánh Linh tác động nên (ICor 12, 3).
Ðó cũng là bước đầu đi vào đường xây dựng căn cước (identité) hiện sinh kitô giáo. Như thế rõ ràng đã phải “đọc lại kinh thánh, đi vào khám phá ý nghĩa sách thánh theo chủ đích (intention) của tác giả và của chính Ðấng mạc khải” (Hc Lời Chúa, 12) để nhận ra vai trò thâm thúy của Chúa Thánh Linh trong đời sống kitô người tín hữu.
6. Bước sang qui mô cộng đồng Giáo hội, đời sống thần bí cộng đồng của Hội thánh cũng xảy ra một tình trạng thử thách tương tự. Sau hàng nghìn năm hăng say sống theo mô thức Giáo hội cơ chế phẩm trật, chính bản thân Gíao hội nay gặp khủng hoảng về căn cước hiện sinh siêu nhiên của mình. Căn cước hiện sinh siêu nhiên ấy có tên gọi là căn cước thần bí. Căn cước hành chánh thì người công dân ai cũng đều có, nhưng căn cước thần bí kitô thì còn là chuyện mới lạ cho người tín hữu. Cuộc khủng hoảng Wittenberg do ô. Luther khởi xướng là cuộc đòi hỏi một giải đáp khởi đầu cho việc xây dựng căn cước thần bí cộng đồng của Hội thánh Kitô? Wittenberg là cột mốc cắm chặng phân biệt kỷ nguyên thần học kinh viện và kỷ nguyên thần học hậu kinh viện (postscholastique). Xã hội ngày nay sống theo văn hóa thực nghiệm nhân bản. Do đó xã hội phát hiện ra bệnh mất bản ngã tâm lý xảy ra nơi nhiều cá nhân.Ðó là thí dụ giúp nhận ra sự kiện nhiều người kitô sống tha hóa, mất căn cước thần bí. (18. 7. 2007).
Người tín hữu kitô là những chủ thể hiện sinh siêu nhiên, họ đều có vận mệnh riêng về đời sống đạo đức của mỗi người. Hội thánh Ðức Kitô là một chủ thể hiện sinh cộng đồng. Hội thánh có một vận mệnh thần bí, cộng đồng phải phát triển thành toàn trong kiếp sống lưu đày trần thế (Eph 4, 13-16). Vận mệnh thần bí cá nhân người tín hữu kitô và vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể, cả hai đều có chung một qui trình phát triển với những điểm cơ bản hai bên giống nhau.
Vào kỷ nguyên văn hóa nhân bản, ở bậc tự nhiên, con người phải tìm hiểu và xây dựng căn tính nhân bản của mình, Cộng đồng loài người lo tìm xây dựng và phát triển căn tính (identité) của cộng đồng dựa theo định luật “bản tướng” nhân loại. Trong phạm vi cá nhân, con người lo tìm và phát triển căn tính tâm lý hiện sinh để khỏi sống tha hóa. Trong phạm vi cộng đồng chung của mình, loài người lo tìm hiểu và phát triển căn tính nhân bản của cộng đồng.
Với một hậu cảnh văn hóa như thế, người tín hữu phải lo tìm hiểu và xây dựng, phát triển căn tính kitô hữu kẻo bị khủng hoảng tôn giáo. Ðồng thời cộng đồng Hội thánh-Nhiệm thể cũng phải lo tìm hiểu, xây dựng và phát triển vận mệnh thần bí chung của bản thân Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu. Một khi có định luật phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng Hội thánh-Nhiệm thể, Giáo hội dễ lường ra những khó khăn cùng những thách đố cuộc sống đang chờ đợi mình.
Khủng hoảng Wittenberg từ thế kỷ XVI đánh dấu cột mốc cho cuộc khủng hoảng đòi xây dựng căn tính (ID) thần bí của Hội thánh Ðức Kitô. Hội thánh Ðức Kitô và vận mệnh thần bí cá nhân người tín hữu có mối liên hệ hỗ tương mật thiết.Cá nhân tín hữu biết xây dựng & phát triển căn cước thần bí của mình thì đó là kinh nghiệm soi dẫn Hội thánh cũng biết đường xây dựng và phát triển căn cước thần bí, cộng đồng của chính Hội thánh, và ngược lại.
7- Bộ Tân Bách khoa Công giáo nhận định rằng: Công Ðồng Trentô đã không nêu ra được định nghĩa về Giáo hội (The New Catholic Encyclopedia, cuốn 14, trang 170). Sự kiện thiếu định nghĩa về Hội thánh xảy ra do những nguyên nhân nào? Có phải đảo ngược viễn tượng nhận thức cổ điển theo siêu hình học mới có nền tảng để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về Hội thánh chăng? Sự thiếu định nghĩa về Hội thánh sinh ra những hậu qủa ghê gớm ra sao? Cuộc đại khủng hoảng thế kỷ XVI xảy ra là vì thiếu một khoa thần học trưởng thành về Hội thánh đứng biệt lập với kitô học chăng?
Từ đó đặt ra việc xét lại hiệu qủa và vai trò của Công Ðồng Trentô ra sao. (19.7.2007).
Cuộc khủng hoảng Wittenberg qua các sự chống đối đòi Giáo hội xét lại cơ cấu tổ chức của Giáo hội. Ðiều này đòi Giáo hội phải đưa ra định nghĩa mới về Giáo hội. Phải hàng chục năm sau Công Ðồng Trentô, mới có định nghĩa đầu tiên về Hội thánh. Sau nhiều thập niên sống theo mạc khải về Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu (Col 2, 17-19) chúng tôi cũng đã lại xin đưa ra định nghĩa mới về Hội thánh.
Nhờ định nghĩa mới, các tín hữu kitô cầu tiến sẽ căn cứ vào lịch sử phát triển Hội thánh theo dòng thời gian mà khám phá ra định luật Bônifaxiô (x. Viễn Việt, Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu, trang 86). Theo định luật giáo sử này, Giáo hội Chúa Kitô có một quá trình phát triển trải dài theo hai kỷ nguyên thần học. Chính cuộc khủng Wittenberg chia rẽ Giáo hội kitô thành một bên là Phong trào Tin lành và một bên là Giáo Hội Rôma. Với định luật giáo sửƯ Bônifaxiô, người ta kiểm nghiệm lại được cấu trúc của Hội thánh Ðức Kitô, qua cuộc sống hiện sinh, bản chất của Hội thánh-Nhiệm thể.
Và thấy Hội thánh có hai mô thức cho lịch trình phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của mình (x. Viễn Việt, Giáo hội phát triển và đổi đời, trang 39-50).
Nói tới đây,
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại một kinh nghiệm từ thời Cựu Ước. Truyền thống sách Thứ luật là gì? Thưa truyền thống Thứ luật nhắm chứng tỏ nguyên nhân xảy ra các biến cố thành Giêrusalem bị tàn phá và dân Do thái bị lưu đày. Các biến cố ấy cụ thể xảy ra từ năm 722 và 586, cả hai nướÔc Israel và Juda đều bị tan rã. Ðó là hậu qủa trực tiếp bởi dân tộc Do thái chạy theo các thần ngoại giáo nhất là bất tuân lệnh kính thờ Thiên Chúa.
Kinh nghiệm vừa nêu trên đây gợi ý cho ta đi tìm giải thích biến cố chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma.
Ngày xưa dân Do thái bỏ thờ Thiên Chúa, thì thời hiện đại ngày nay Hội thánh Ðức Kitô sống đạo trì trệ (?).Hội thánh có sống nghiêm túc với căn tính (identité) thần bí của mình không? Hội thánh thời nay có lo sống phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của mình chăng? Mỗi người tín hữu kitô có sống nghiêm chỉnh theo căn tính về vận mệnh thần bí bản thân không? Khủng hoảng về sống đạo. Sức sống đạo không được khai triển có đường hướng vì thiếu mô thức mới, thiếu khám phá ra đầu mối phát triển. (lúc 04g55p sáng 20.9.07)
8- Người ta có thể đặt lại câu hỏi nêu trên “tại sao Công Ðồng Trentô đã không nêu ra định nghĩa về Hội thánh”, chúng ta thấy có thể mở rộng câu hỏi: ‘Tại sao Hội thánh đã không thấy nảy sinh ngay từ cuối thời trung cổ nhu cầu cần có một khoa thần học về giáo hội”? Thưa có nhiều lý do.
Tới cuối thời trung cổ, kỷ nguyên thần học kinh viện đã phát triển vô cùng phong phú một nền kitô học, nhưng kiến thức thần học về Hội thánh thì còn tản mạn, manh mún.Hội thánh được nhắc đến qua các ví dụ, các hình ảnh từ trong kinh thánh.
Tâm thức tôn giáo nơi vùng Bắc Ðại tây dương qua nền thần học Ðức, qua trường phái Sách Gương Phúc là những dấu chỉ mới cho thời đại. Tuy nhiên các vị hàng giáo phẩm nặng óc cai trị theo giáo luật không nhận ra. Các thầy kinh viện cũng chẳƯng nhận ra. Chính trường phái sách Gương Chúa Giêsu cũng đã phải rất đau lòng phàn nàn thảm trạng thứ thần học và triết học kinh viện sa đà (Gương Chúa Giêsu q.I, ch. 1, c. 3; q.I, ch III, c. 3)
9. Trong thế kỷ XIV, đã xảy ra cuộc tranh chấp quyền bính giáo hoàng . . . Thần học tín lý thì khô cằn, giáo luật chưa có hẳn bài bản là một khoa thần học.
Giới chức giáo phẩm đơn độc (Eph 4, 11) không hiểu ra tình hình mới, với những dấu chỉ thời đại mới cho Hội thánh Ðức Kitô. Thiếu hàng”tiên tri”và mù mờ về chứ năng các thành phần đoàn thể chi thể khác của Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô (!)Rồi ra giáo luật nên có một cơ cấu tượng trưng cho hệ đoàn sủng trong Hội thánh? Nếu có cơ cấu đó sẵn thì thời cuối trung cổ may ra đã xác định được định hướng cải cách tránh đổ vỡ lớn rồi chăng? Hệ phẩm trật độc diễn nên vô cùng lúng túng không biết cải cách theo hướng nào, với đầu mối ra sao!
Không thấy trong Thân thể Hội thánh cần tôn trọng nguyên tắc phân nhiệm & phân công, không thấy nảy sinh nhu cầu đòi hiểu biết sâu rộng về Hội thánh, về bản chất và sứ mệnh thần bí của Hội thánh.
Cần khai sinh một khoa thần học về giáo hội? Nhưng Giáo hội đã không sớm có ý kiến khai phá và xây dựng một khoa thần học về giáo hội. Trong tình trạng hỗn mang ấy vào cuối thời trung cổ, ông Luther và Phong trào đã đưa ra cả một mớ lý thuyết mang nhiều sai lạc về Giáo hội, và gây tai hại cho vận mệnh Hội thánh Ðức Kitô.
Thiết tưởng cũng nên nói thêm một điều mới mẻ khác.Kiến thức về giáo hội, về đời sống, về bản chất hiện sinh của Hội thánh tại sao không phát triển được trong kỷ nguyên thần học kinh viện? Kiến thức về thần học Giáo hội nằm theo chiều hướng”linh đạo” dẫn con người trở về với Thiên Chúa là cùng đích tối hậu. Thần học kinh viện lại nằm trong định hướng “giảng kinh” (endoctrinement) từ Thiên Chúa xuống, ngược chiều với định hướng “linh đạo” (spiritualité) dẫn đưa đời sống con người trở về Thiên Chúa. Không lạ gì một định nghĩa về Hội thánh thật vô cùng khó thể có được vào trước thời Phong trào Tin lành xuất hiện.
10- Tình trạng hiểu biết yếu kém về Hội thánh tính cho tới Công Ðồng Vaticanô II.
Hội thánh xuất hiện chính thức từ Lễ Ngũ Tuần, suốt thời thượng cổ, trung cổ, Hội thánh có một khoa kitô học vững vàng, nhưng thiếu hẳn bài bản cho một môn học về Giáo hội. Giáo hội chỉ quen dùng những hình ảnh chỉ về cộng đồng Dân Chúa (Hc. Giáo hội, 6), chứ không có cả đến một định nghĩa minh bạch rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống.
Suốt thời thế kỷ XVI trở về trước thì không nói nữa làm chi. Sau Công đồng Trentô, môn học về giáo hội cũng chẳng phát triển được nhièạu lắm, ngoài việc đưa ra một định nghĩa nhắm biện minh quyền bính của hệ phẩm trật nhờ vào định nghĩa của thánh R. Bellarminô (+1621) để chống đỡ lại sự bất phục tùng của Phong trào Tin lành. Giáo lý về Hội thánh trong mấy thế kỷ gần đây đi theo định nghĩa về quyền bính phẩm trật đã tỏ ra chưa đủ hiệu lực hướng dẫn cuộc sống của Hội thánh. Trong Công Ðồng Vaticanô II (1962-65) vị giáo hoàng chủ trì Công Ðồng mới đề nghị các nghị phụ đưa ra định nghĩa mới về Hội thánh.
11- Công Ðồng Vaticanô II lấy mạc khải Nhiệm Thể Chúa Kitô làm chủ đề cho nhiều văn kiện của Công Ðồng. Chủ đề Nhiệm Thể Chúa Kitô là chủ đề ăn bộ đôi với mạc khải Giáo hội là cộng đồng kitô hữu được tổ chức có cơ chế phẩm trật. Mô thức Giáo hội cơ chế phẩm trật từng được đề cao và xây dựng suốt hai mươi thế kỷ rồi. Ngày nay với mô thức Nhiệm Thể Chúa Giêsu là mô thức mới, Hội thánh Ðức Kitô cần khai triển sức sống thần bí, tập thể của mình mà dần dần đổi đời trở nên Thân Thể mầu nhiệm Chúa Giêsu. Nhờ quá trình cuộc sống theo giáo lý mạc khải về Thân thể mầu nhiệm Ðức Giêsu, Hôi thánh sẽ xác định được bản chất hiện sinh của mình trong phần định nghĩa về Hội thánh.
12- Năm thế kỷ trước đây, Công Ðồng Trentô xem xét ơn công chính hóa chỉ là một tín điều và không xét đó tự bản chất là mầu nhiệm sống đạo, mầu nhiệm sống Ðức Mến (ICor 13). Vì thế Công Ðồng Trentô không mở ra con đường sống đạo cho người tín hữu cá nhân, để họ phát triển vận mệnh thầợn bí tư riêng của họ, trong khi họ là những đơn vị cơ bản cho cộng đồng Hội thánh.
Phải chờ hàng thế kỷ sau khi xuất hiện Phong trào Tân Sùng Mộạ (Devotio Moderna), Thần Khí Thiên Chúa mới thương mạc khải cho mẹ Bề trên Têrêsa Avila một lộ trình tiến đức bảy bậc cầu nguyện trong đời sống phát triển của người kitô. Linh đạo mới này Tu hội thánh Brunô (+1101) ẩn sĩ tìm kiếm mãi từ đầu thế kỷ XI chưa sao ra đầu mối và có bài bản trước sau.
Từ năm thế kỷ trước đây, Công Ðồng Trentô cũng không mở ra Con Ðường cho Hội thánh có mô thức mới mà phát triển vận mệnh thần bí, tập thể của mình. Mô thức mới đáng ước ao ấy rút ra từ mạc khải Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô (Eph 4, 11-16). Có thể nói mô thức Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô đáp ứng được khát vọng Dân Thiên Chúa thời nay tương tự như mô thức về nền Cộng hoà đối với ước mơ chính trị của các quốc gia, dân tộc hiện đại. Thời chế độ quốc gia quân chủ xưa kia, dân chúng cứ phải một bề nghiêm chỉnh tuân giữ các luật lệ an ninh bảo vệ chế độ. Thời buổi cộng hòa ngày nay, người dân hưởng đủ mọi quyền công dân để phát triển vận mệnh của mình, và đồng thời tiếp sức phát triển vận mệnh chung của cộng đồng loài người.
Ðời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu chưa được khai triển thành một con đường có bài bản rõ ràng gì, chưa có lộ trình như bảy bậc cầu nguyện từng được ban truyền đặc biệt cho Hội thánh qua thánh nữ tiến sĩ Têrêsa Avila (+1582). Ðến thế kỷ XX, Công Ðồng Vaticanô II cũng không ban bố được một linh đạo phát triển Nhiệm thể Chúa Giêsu. Chưa có lộ trình cụ thể cho việc phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể xuyên suốt kiếp sống lưu đày trần gian. Cuộc sống thần bí, cộng đồng nơi bản thân Hội thánh còn phải mò mẫm và đầy gian nan.
13- Mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu được khai triển ra theo hai con đường song song, một theo qui mô nhỏ cho người tín hữu cá nhân phát triển vận mệnh thần bí tư riêng của họ. Một được khai triển theo qui mô lớn, cho cộng đồng Hội thánh, để chính Hội thánh có mô thức mà sống phát triển và đổi đời vận mệnh thần bí, cộng đồng của mình (x. Viễn Việt, Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu, xuất bản năm 2005, tại Hoa Kỳ).
Công Ðồng Vaticanô II đã chú trọng đến Mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu (Hc Giáo hội, 7- 8). Mạc khải này được diễn tả lại như cốt lõi trong nhiều văn kiện khác. Tuy nhiên chưa hẳn là Công Ðồng đã chính thức chấp nhận mạc khải Nhiệm Thể Chúa Giêsu làm cột mốc mới cho sự phát triển vận mệnh Hội thánh, và như thế chưa hẳn là Công Ðồng đã khẳng định chuẩn nhận mạc khải Nhiệm Thể Chúa Giêsu làm mô thức mới cho việc phát triển vận mệnh Hội thánh theo đó(!)
Tình trạng mù mờ này chưa cho phép Công Ðồng Vaticanô II đưa ra rõ ràng một định nghĩa mới về Hội thánh. Hiến chế về Giáo hội trưng dẫn từ kinh thánh nhiều cách gọi Giáo hội. Tuy nhiên Công đồng chưa đưa ra rõ ràng một định nghĩa hoàn chỉnh về Hội thánh-Nhiệm thể. Vì thế khó mà dám khẳng định rằng Công Ðồng Vaticanô II đã thực sự chọn mạc khải Nhiệm Thểạ Chúa Giêsu làm mô thức mới cho sự phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh Ðức Kitô. Công Ðồng còn mù mờ trong việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về Hội thánh-Nhiệm thể ! (30.7.07)
14. Mạc khải NTCG có khả năng mở ra một thời vận mới cho Hội thánh Ðức Kitô như chưa từng có cho lịch sử Hội thánh chăng? Theo kinh nghiệm bản thân của chúng tôi thì qủa thực với mạc khải về Nhiệm thể Chúa Giêsu Hội thánh sẽ có một định nghĩa mới khác với định nghĩa về Hội thánh là cộng đồng được tổ chức theo cơ chế phẩm trật. Ðịnh nghĩa mới sẽ đưa ra một nội dung mới, và đưa ra mô thức mới cho Hội thánh sống theo đó. Ðời sống Hội thánh sẽ không còn chỉ sống với mô thức Hội thánh là một cơ chế phẩm trật mà thôi. Cuộc sống Hội thánh sẽ là một tiến trình phát triển từ mô thức cũ chuyển sang nếp sống theo mô thức mới: Mô thức Nhiệm thể Chúa Giêsu. Hội thánh sẽ sống cuộc đổi đời mầu nhiệm và phát triển ngày một trưởng thành hơn (Eph 4, 13).
Hàng giáo phẩm, các nhà thần học và các linh hồn ưu tuyển phải tha thiết và ân cần khai triển Con Ðường đã mở ra đúng thời điểm để Dân Thiên Chúa sống sung mãn sự sống của Ðức Kitô (Ga 10, 10)
15. Ðịnh nghĩa mới về Hội thánh Ðức kitô.
Giáo hội Ðức Kitô công khai có từ khi Chúa Thánh Thần Chúa Thánh Thần hiện xuống với các tông đồ (CVTÐ 2, 1-12). Giáo hội bành trướng khắp nơi thiết lập các cơ sở ở nhiều địa phương. Ai cũng hiểu Giáo hội như Kinh thánh dạy. Tuy nhiên dù sinh hoạt có đủ các thành phần phẩm trật, nhưng Giáo hội chưa đưa ra định nghĩa về mình cho rõ ràng chính xác. Cả mấy chục năm đau thương sau cuộc chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma, năm 1585, thánh Rôbertô Bellarminô (1542-1621) người đầu tiên mới đưa ra một định nghĩa về Hội thánh. Theo định nghĩa này, Giáo hội là một cộng đồng các tín hữu kết hợp lại theo một xã hội có cơ chế phẩm trật, gồm giám mục, linh mục và giáo dân, dưới quyền cai quản của vị giáo hoàng kế nghiệp thánh Phêrô ở Rôma. Nhờ sống cả hơn 15 thế kỷ theo nền luật học cổ La-mã, Giáo hội kitô có hậu cảnh đó mới dễ nêu lên định nghĩa đó để củng cố “mạc khải Mt 16, 18” và trả lời trước các chống đối của Phong trào Tin lành châu Âu.
* Vào dịp Công Ðồng Vaticanô II họp khóa II, Ðức Phao-lô VI yêu cầu các nghị phụ đưa ra một định nghiã mới xứng hợp hơn về Giáo hội. Dù thế, các văn kiện của Công Ðồng cũng chưa đưa ra một định nghĩa mới về Giáo hội. Năm 1999, một cựu chủng sinh người Việt đưa ra định nghĩa mới. Nội dung định nghĩa bao gồm cả hai mô thức, một về Hội thánh cơ chế phẩm trật và một về Thân Thể mầu nhiệm Ðức Kitô. Hai mô thức tổ chức là con đường cho Giáo hội Ðức Kitô phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của mình thành hai kỷ nguyên thần học. Ðịnh nghĩa mới chỉ ra một lộ trình phát triển vận mệnh thần bí cộng đồng của Hội thánh vào kỷ nguyên thần học hậu-kinh viện.
16. Vào thời bùng nổ cuộc khủng hoảng Wittenberg, nhà cải cách Martin Luther công kích dữ dằn nếp sống cổ hủ của Giáo hội phẩm trật từng mắc nhiều chuyện lạm quyền và tha hóa. Ông Luther đã nguyền rủa Giáo hoàng một cách quá thậm tệ (x. H.Jedin, History of Church, trang . . .)
nhưng ông lại không thể trình bày nổi một mô thức cho Giáo hội của Ðức Kitô sống phát triển lành mạnh và tốt đẹp vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh. Mặt khác, Công Ðồng Trentô cũng không thể trình bày ra một mô thức đáng ước ao. Công Ðồng Trentô có đưa ra nhiều cải cách cần thiết, nhưng tựu trung cũng không có con đường khai thông trọn gói các bế tắc về nếp sống thần bí, cộng đồng của Giáo hội.
17. Ðịnh nghĩa mới về Hội thánh Ðức Kitô phác họa ra một mô thức mới cho Hội thánh phát triển vận mệnh thần linh của mình. Tuy nhiên đó mới là một quan niệm. Từ quan niệm ấy có thể khai triển ra thành một linh đạo cho Giáo hội sống phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng không? Ðiều đó đòi phải được triển khai một cách cụ thể có bài bản rõ rệt ra sao đây?
Linh đạo phát triển vận mệnh thần bí cá nhân người tín hữu kitô là một qui trình diễn tiến qua nhiều chặng đời tu đức khác nhau với những giai đoạn thăng tiến xen kẽ những cuộc thử thách đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Nào là đêm giác quan, nào là đêm tinh thần mịt mù. Linh đạo phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-nhiệm thể là một mầu nhiệm vĩ đại. Ðó sẽ là cơ sở cho Hội thánh sống theo trong kỷ nguyên thần học hiện đại mà thiên kỷ thứ ba kitô này là bước khởi đầu.
18. Cuộc đổi đời của Hội thánh Ðức Kitô từ mô thức cơ chế phẩm trật chuyểạn hóa sang mô thức Nhiệm thể, đó là một qui trình cho cuộc sống của Hội thánh. Qui trình này gồm hai yếu tố tạo ra cuộc đổi đời rất đặc biệt và phát triển ổn định.
Ði ngược lại qui trình ấy có được không?
Trong đời sống thần bí cá nhân người tín hữu kitô không thể phát triển sang tuổi đời phát triển theo giáo lý mạc khải Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu, nếu trước đó không từng trải qua tuổi đời dài sống tuyên tín theo mạc khải về Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế (Mt 16, 16-17) và Ðức Giêsu Kitô lại là Ngôi Lời đời đời (Ga 1, 1-14) . . .
Ðời sống người tín hữu kitô ở phạm vi cá nhân có đi ngược được phương trình đó không? Nếu đi ngược, sẽ mắc những rối loạn nặng nề nào?
Ðời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể cũng không thểạ đi ngược lại qui trình vừa nêu trên.
19. Ðổi đời thần bí từ mô thức sống theo cơ chế phẩm trật sang mô thức sống theo giáo lý Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu, đó là một con đường cho cuộc sống lịch sử đang tiến tới. Ðó là linh đạo cho Hội thánh phát triển cuộc sống thần linh của mình. Ðời sống phải có một đường hướng phát triển rõ ràng, chứ không thể cứ tiêu hao ngày tháng theo nhu cầu chiến thuật này nọ trước mắt là đủ.
20. Ðịnh nghĩa mớÔi về Hội thánh hàm chứa hai mạc khải: một về cơ chế phẩm trật và một mạc khải về Nhiệm thể Chúa Giêsu. Như thế định nghĩa mới dựng thêm một cột mốc mới cho sự phát triển vận mệnh Hội thánh. Như thế có mô thức mới cho cuộc sống mầu nhiệm của chính Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu. Hai mô thức sống hỗ trợ nhau theo thứ tự giống như mối tương quan giữa mô thức Cựu Ước và Tân Ước.Nếp sống diễn tiến tạo thành qui trình hiện sinh duy nhất trong dòng lịch sử Hội thánh.
21. Công thức dứt khoát rõ ràng là: chỉ khi thực hiện bước tiến triển từ tín lý sang thần bí Công Ðồng mới đi đúng hướng mà vận mệnh Hội thánh đòi hỏi đi vào. Bản Tuyên xưng đức tin (Declaratio Fidei Tridentina) không đi đúng hướng đó nên không có khả năng chưã chạy thích hợp hẳn với cơn bệnh Wittenberg. Hậu qủa là đã gây càng rõ nét xung khắc giữa hai bên Tin lành và Công giáo (x. John Dwyer, Church Hitory, trang301).
22. ẶCần có bản Tuyên xưng đức tin theo Công Ðồng Trentô năm 1564 để nhận định thêm chính xác về nội dung cùng tác dụng của bản Tuyên xưng đóÃ Bản tuyên xưng đức tin theo Trentô nhìn công chính hoá là tín điều thuần túy hay còn chỉ vẽ cả mô thức sống đạo nữa?
* Xác định sự khác biệt giữa giáo lý của M. Luther với giáo lý của Công Ðồng Trentô còn là vấn đề có một lịch trình dài tính từ buổi đầu cho tới Tuyên ngôn đính kèm về ơn công chính hóa năm 1999, 31 Aug.9 (x. New Catholic Encyclopedia, mục Justification, q. 8)
22a. Tìm đọc cho được cuốn Theologia germanica, Thần học Ðức, tác phẩm viết bằng tiếng la-tinh. Không có nó là thiếu một mắt xích cơ sở hệ trọng! Xem đầu mối trong các Theological Dictionary
*******
22b. Công Ðồng Trentô không đảo ngược viễn tượng luận lý cổ điển và không đảo ngược viễn tượng thần học kinh viện để nhìn lại ơn công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo! Công việc đảo ngược viễn tượng cổ điển mở ra viễn tượng đảo ngược cả hệ thống cuộc sống. Công chính hoá là mầu nhiệm sống đạo chứ không phải chỉ là vấn đề tín lý. Là mầu nhiệm sống đạo thì sống công chính hoá đòi có mô thức cho cuộc sống, và đòi có qui trình phát triển cụ thể với những chặng đời thần bí khác nhau xuyên suốt kiếp người.
22c. Chiếc lờ cá có cái hom. Cá vào lờ xuôi xắn, dễ dàng, nhưng chui ra bị mắc hom. Ðây là hình ảnh cuộc khủng hoảng Wittenberg. Bàn về cuộc khủng hoảng Wittenberg mà không đảo ngược viễn tượng luận lý, không đảo ngược viễn tượng thần bí thì không có lối giải thoát. Con người phải đảo ngược viễn tượng luận lý hướng phóng thể mới khỏi mắc hom. Cách mạng (revolution) khác xa cải cách (reformation). Phản tỉnh (retrospection) chính là cái hom gây trắc trở đó.
22d. Cái ngạnh lưỡi câu.
Chế tạo chiếc lưỡi câu, người ta không chỉ vót nhọn đầu sợi sắt, và cũng không chỉ uốn cong sợi kim khí đó.Còn phải chế thêm cái ngạnh ở đầu lưỡi câu nữa. Có thế con cá khi ăn mồi sẽ bị hóc vào ngạnh lưỡi không dễ tuột ra được . . .
Từ khởi đầu lịch sử hai nghìn năm qua, Hội thánh Ðức Kitô sống theo định hướng thần học kinh viện và với mô thức Hội thánh được tổ chức theo cơ chế phẩm trật. Ðó thật là đúng bài bản từ kinh thánh. Nhưng đi sâu vào cuộc sống bản thân, Hội thánh Ðức Kitô thời ngày nay gặp biến loạn.Cùng tất biến? Như con cá muốn trở về nguồn suối nguyên thủy là Thiên Chúa, Hội thánh mắc chiếc hom sống đạo không dễ chui ra như lúc chui vào buổi đầu. Chỉ có kinh nghiệm sống đạo viên mãn (Eph 4, 13) mới cho thấy bí quyết vượt thoát khác thường giúp giải thoát an toàn và sống viên mãn trở về với Thiên Chúa là cùng đích.
23. Ông M. Lu-ther
&
Công Ðồng TREN-TÔ
( Xét Lại)
(27.7. 2007)
24. Cuốn Ðịnh bệnh chia rẽ kitô giáo chưa nói gì đến Công đồng Trentô. Tại sao vậy? Cuốn đó là bước đầu đề cập đến cuộc khủng hoảng Wittenberg. Nó chưa tới lúc cần bàn sớm ngay đến Công Ðồng Trentô, thậm chí cũng chưa nói đến sự phân loại các ngành phái Tin lành. Nó chú trọng đến tính cách mới mẻ về kinh nghiệm từ trực giác thần linh bởi đời sống theo mạc khải về Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu. Nó xoáy vào sự khám phá nguyên nhân thần bí: Cuộc khủng hoảng Wittenberg là cuộc khủng hoảng về vận mệnh thần bí của Hội thánh, chứ không phải là cuộc khủng hoảng tín lý hoặc khủng hoảng về kitô học.Kinh nghiệm thần bí cá nhân đó là chiếc chìa khóa cho việc tìm hiểu căn cội cuộc khủng hoảng cộng đồng.Phải đứng vào quan điểm thần bí, với tâm hồn thần bí và kinh nghiệm thần bí thâm sâu (Eph 4, 13) mới có phương hướng tìm ra giải pháp đại kết.
25. Vai trò của Chúa Thánh Linh trong kỷ nguyên mới (xem bổ sung nơi trang 67)
*** Nhà văn Nguyễn Khải phàn nàn giới trí thức “không được quyền sống thật, nói thật, nhà văn cũng không được quyền bộc lộ tâm tư riêng của mình trên trang giấy”. Ông nói về sự thiếu phát triển hài hòa giữa đời sống cá nhân công dân trong xã hội cộng hòa dân chủ ngày nay. Nhà Nước Việt Nam phát triển mạnh theo chủ nghĩa xã hội. Văn nghệ sĩ không có tự do phát triển bản thân. Nguyễn Khải nói xã hội các công dân mỗi ngưởi phải có một nguồn lực tự thân (x. Nguyễn Khải, Ði tìm cái tôi đã mất, đăng trong Ðàn Chim Việt, và trong Việt Tide, số 371 ngày 22.8.2008).
Ta có thể hình dung lịch trình phát triển đời sống cá nhân như một vòng tròn nhỏ, và lịch trình phát triển đời sống cộng đồng quốc gia như một vòng tròn lớn nằm bao vùng bên ngoài. Vòng lớn, vòng nhỏ đều có chu vi riêng của nó. Cả hai vòng phải ăn bộ với nhau từng cặp các khâu tương ứng.
Một xã hội cộng hòa cần các công dân mỗi người phải có nguồn lực tự thân. Nguồn lực tự thân ấy là cái gì? Phải chăng đó là mỗi người phải tự thiết lập được cho mình một vận mệnh tâm lý với căn tính (identité) nhân bản riêng. Cộng đồng cũng có căn tính riêng của cộng đồng, đồng thời các công dân đều có căn tính nhân bản riêng cá nhân. Cộạng đồng quốc gia cần tôn trọng quyền độc lập tự tại của mỗi công dân, chứ không thể chỉ coi công dân như những con số vô hồn không có tự do dân chủ. Ngược lại sự phát triển lấn lướt lẫn nhau giữa hai vòng tròn cá nhân và cộng đồng (quốc gia) đều gây thảm họa cho nhau như trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Tuổi 15, 16 tâm trí tôi cứ thao thức tìm công thức kép hai vòng tròn lồng vào nhau đó, trong khi nghĩ cách xây dựng một cộng đồng mạnh (cho lớp Ba), nhưng tôi không gặp một ai để chia sẻ tâm tư. (Lúc 04g 49p ngày 17 Sept. 2008)
* Nhìn vào lịch sử Hội thánh Ðức Kitô, ta thấy gì? Hàng chục thế kỷ đầu đời, Hội thánh đi tìm xây dựng cái khung quyền bính cho trật tự chung Hội thánh theo trình thuật Mt 16, 18. Với vụ khủng hoảng Wittenberg, vòng an ninh trật tự chung như bị vỡ tung. Vòng tu đức cho cá nhân tín hữu cũng chẳng có. Cuối thế kỷ XVI mới nhận được linh đạo Cát-minh cho đời tu đức cá nhân tín hữu kitô. Ðây khác nào mới là vòng (cycle) tu đứÔc vòng trong. Bao giờ mới có được vòng tu đức vòng ngoài (Hội thánh) cho thành bộ đôi: cả hai vòng tu đức cho cá nhân, cả cho cộng đồng Hội thánh? Cá nhân tín hữu có vòng cho cá nhân tín hữu, cộng đồng Hội thánh có vòng an toàn cho cộng đồng Nhiệm thể? Phải chăng lúc đó thì cộng đồng Hội thánh-Nhiẹạm thể và tâm hồn tín hữu cá nhân có công thức tham chiếu cho phép tạo cảnh an ninh hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng. Lúc đó có được sự quân bình để phát triển ổn định.
25a. Thời bè Pelagianô và bè Á-Pêlagianô, giáo lý về ơn công chính hóa được dạy với trình độ thế nào? Giáo lý về công chính hóa vào thời điểm xảy ra vụ Tin lành cần được khai sáng tỏ hơn điều nào để đáng soi sáng đáp ứng nhu cầu thời đại? Lý do nào khiến Công Ðồng Trentô chưa làm đạt nhu cầu nên mới bị phê là không thêm được điều cốt yếu (substantial) nào về ơn công chính hóa?
Pêlagiô có quan niệm ra sao về cứu độ? Thưa Pêlagiô (x. Richard P. McBrien, Catholicism, trang 167) và Á-Pêlagiô (x. R. P. McBien, Catholicism trang 38 và 167) đều chưa có đạo lý về ơn cứu độ siêu nhiên. Thời thượng cổ là như thế. Thời cuối trung cổ của linh mục Martin Luther thì nhà thần học kitô này từng thấm nhuần sâu đậm giáo lý cứu độ từ thần học kinh viện. Ông Luther còn nêu cao mầu nhiệm cứu độ mang tính hiện sinh, chứ không chỉ là tín điều tĩnh lặng nữa. Có hiểu như thế mới nhìn ra đầu mối giải đáp cuộc khủng hoảng từ linh mục Luther gây nên (?)
25b. Cuốn Ðịnh Bệnh chia rẽ kitô giáo không một lời nhắc đến Phong trào Văn nghệ Phục Hưng? Không nói đến các biến đổi xã hội học (chính trị, kinh tế . . .) mặc dù có nói tới sự thay đổi bản lề văn hóa & triết học nơi vận mệnh lịch sử châu Âu.
Nên đọc lại chương 17 cuốn A Concise History of the Catholic Church của Bokenkotter: The Church fails to reform itself in time. Tuy ghi nhận rành rẽ được sự kiện Hội thánh lúng túng thất bại ngay trong việc mưu tìm phương thức cải cách. Xem xét lại nỗi lúng túng mà thấy thương hại! Còn chính tác giả Bokenkotter cũng vẫn chưa nhận định ra đâu là đầu mối và phương hướng cải cách lý tưởng và chính xác nhất. Phải thế không, thưa sử gia Bokenkotter? “Con mắt ngươi có sáng thì toàn thân ngươi mới khỏi vấp ngã” (?).Ðã sai phương hướng thì cũng sai cả về phương pháp hành sử, sai luôn thể cả các biện pháp giải quyết thực tế.
*** Sống đạo là phạm trù về đời sống theo triết học nhân bản, chứ không phải là phạm trù về nhận thức theo triết học siêu hình.
Sống đạo đòi có mô thức và qui trình phát triển đời sống. Công Ðồng Trentô không bàn cãi ơn công chính hóa như là chủ đề trung tâm của Công đồng. Công Ðồng không nắm vấn đề sống đạo, định hướng sống đạo. Do đó Công đồng Trentô không mở ra định hướng ấy thì ngày nay đời sống của Hội thánh kitô bị khê đọng, quần chúng kitô châu Âu bỏ đạo từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Nếu Công Ðồng Trentô bàn cãi ơn công chính hóa như là mầu nhiệm sống đạo, và là chủ đề trung tâm của Công Ðồng thì tương lai Hội thánh kitô sau đó nay khác xa rồi!
Sống đạo đưa đến kết qủa ra sao?
Thưa: Sống đạo là Vòng Xoắn đưa con người trở về kết hiệp với Thiên Chúa là cùng đích tối hậu. Nó không đơn thuần là một khâu cụt ngủn. Vòng xoắn mở ra phần vận mệnh mới lạ chưa dễ ước tính hết.
Sống đạo là Vòng xoắn đưa Hội thánh trở về kết hiệp với Thiên Chúa là cùng đích tối hậu.
(03 Sept. 2008)
25c. Raoul Castro muốn đối thoại với Tổng thống Mỹ, nhưng đòi duy trì hai điều kiẹạn:
- vai trò của Nhà Nước
- gia nghiệp Ðất Nước Cuba (!)
Như thế Cuba vốn giữ kinh tế quốc doanh và bản sắc & di sản cộng sản. Hẳn sẽ không thay đổi định hướng cả về kinh tế, cả về chính trị!
Từ câu chuyện trên, tôi học được gì để áp dụng vào công việc nhận định lại Công Ðồng Trentô?
Phải chăng Trentô vẫn duy trì định hướng thần học kinh viện trung cổ, không chuyển sang định hướng thần học thần bí, không đảo ngược viễn tượng cổ điển cả về thần học lẫn viễn tượng văn hóa siêu hình học cổ Hy-La? Truyền thống (tradition) cũng không được “nối tiếp” sinh động.
Trentô xác định về truyền thống (tradition) một cách không chút lay chuyển. Có nên phân biệt các loại truyền thống, thứ nào bất dịch, thứ nào cần thay đổi và thay đổi ra sao (Mt 15, 2-3). Giáo hội Rôma vẫn một mực lo kiên định vai trò của mình theo mô thức giáo hội đầy quyền bính. Mặt khác, Giáo triều cứ duy trì cứng ngắc đường hướng thầợn học kinh viện cổ điển (mãi rồi thần học kinh viện cũng đã phải canh tân sau thời giáo hoàng Lêô XIII).
Công Ðồng Trentô chữa chạy cuộc khủng hoảng Wittenberg theo các hiện tượng, sự kiện, các triệu chứng hay là chữa trị từ nguyên nhân? Các bài thuốc mang tính chất nào? (27.7. 2007)
26. Xếp loại các Công đồng chung theo tiêu chuẩn ra sao?
Theo tiêu chuẩn kitô học và giáo hội học?
Sáu công đồng chung giữa giáo hội bên Ðông và bên Tây hoàn toàn lấy chủ đề về kitô học, thường nhắm về diện tín lý. Các Công đồng họp riêng bên Tây thường nhắm về mặt kỷ luật Giáo hội. Công Ðồng Trentô đặc biệt với định hướng mới mẻ về Giáo hội học. Từ thế kỷ XVI, Giáo hội mắc phải cuộc khủng hoảng về đời sống Hội thánh, về giáo hội học. Từ đó lịch sử các Công đồng chung mở sang một định hướng khác hẳn. Từ đó có một bước ngoặt từ định hướng kitô học và giáo luật chuyển sang định hướng giáo hội học cho thời hiện đại.
Từ cuối thời trung cổ, đã nảy sinh nhu cầu đòi đào sâu vào đời sống nội tâm của Hội thánh. Sau tuổi đời đào sâu vào mạc khải về Ðức Kitô là Chúa Cứu thế (Mt 16, 17) Hội thánh Ðức Kitô bước vào tuổi đời bị đặt trước câu hỏi: Nhờ đâu Hội thánh sống được đời sống kitô giáo đích thực. Nhưng giáo triều vẫn không sớm nhận ra nhu cầu đó. Giáo hội Rôma cứ một bề dán mắt vào những việc làm đạo đức, chạy theo những thứ sùng mộ bề ngoài, nặng lòng với việc xây cất đền thờ gạch đá vv . . . Ðùng trong chốc lát, bùng nổ phong trào Tin lành, mở đầu kỷ nguyên đòi hỏi về sống đạo, về giáo hội học.
Các công đồng sau đó ngầm có nhu cầu đi vào sống theo giáo lý mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu? Nhưng trầy trật mãi tới Công đồng Vaticanô II mới sử dụng đến giáo lý mạc khải NTCG (Hc Lumen gentium, 8). Hướng giải thích vừa kể phải chăng dựa vào định luật giáo sử Bônifaxiô?
Kinh nghiệm sống giáo lý nơi cá nhân người tín hữu kitô cũng có hướng phát triển theo giáo lý Nhiệm Thể Chúa Giêsu. (29. 7. 2007)
27. Có nên viết một cuốn sách hoặc ít nhất một chương sách dài mang tựa đề:
Công Ðồng Vaticanô II và mạc khải về Nhiệm thể Chúa Giêsu?
Giáo lý mạc khải Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô đem lại một mô thức khác với mô thức Hội thánh cơ chế phẩm trật. Mô thức mới khai triển ra qui trình phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh thành nhiều kỷ nguyên thần học xuyên suốt cuộc đời lưu đày tại thế. Phép lạ ấy Công Ðồng Trentô thế kỷ XVI chưa thể ngờ là có thể xảy ra. (30.7.2007)
28. Hai vấn đề rất đáng quan tâm.
a/ Công Ðồng Trentô không đưa ra một định nghĩa về Hội thánh. Phải mất vài chục năm sau đó, tiến sĩ Rôbertô Bellarminô mới đưa ra định nghĩa đầu tiên về Hội thánh. Ðịnh nghĩa này lấy quan niệm về quyền bính phẩm trật làm yếu tố quyết định tạo thành Hội thánh cơ chế phẩm trật. Một định nghĩa đã xuất hiện có tính tự vệ, bênh vực cơ chế phẩm trật.
b/ Công Ðồng Vaticanô II không minh thị tuyên bố chọn mạc khải Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu làm cột mốc thứ hai cho linh đạo phát triển vận mệnh Hội thánh-Nhiệm thể. Nhiều văn kiện giáo huấn của Công Ðồng nhắc đến mạc khải Nhiệm thể làm làm hạt nhân, làm cơ sở cho sự hình thành văn kiện (Hc Ánh sáng muôn dân, 8). Tuy vậy Công Ðồng Vaticanô II không khẳng định chọn mạc khải Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu làm bản chất của Hội thánh-Nhiệm thể. Có khẳng định như thế mới dứt khoát là cắm một cột mốc cho cuộc sống của Hội thánh trong tuổi đời (kỷ nguyên) thần học thứ nhì ngày nay.Lời dạy minh thị cũng thật cần thiết và hữu ích.
Hội thánh Ðức Kitô sống khá mù mờ, không xác định được căn tính (identité) thần bí đích thực của mình. . .
(9 Aug. 2007)
29.” Trong cuốn Being and Time, Heidegger đã cho rằng các phạm trù về hữu thể từng được dùng đến kể từ thời Hy-lạp cho đến Desacrtes, đều không thích hợp để diễn tả thời gian tính, lịch sử tính và sự kiện tính của con người hiện hữu trong thế giới” (Hợp tuyển thần học số 8 trang 101). Các phạm trù mà Heidegger gọi là “hiện sinh thể” (existentials) sẽ tiêu biểu cho những gì là đặc thù . . . Phải chăng để bàn về ơn công chính hoá phải có một phạm trù mới và khác với lối suy luận và các phạm trù của thần học kinh viện? (Thiếu bộ phạm trù “hiện sinh thể”, xã hội hiện đại sẽ còn bị khủng hoảng lâu dài, và giáo hội cũng gặp hậu quả tương tự như thế trong thần học). Việc xây dựng bộ phạm trù cho nền văn hóa nhân bản cũng thật gian nan và mất rất nhiều thời gian, vì nó chỉ thành công theo lối qui nạp, kinh qua cuộc sống mà rút đúc ra kinh nghiệm, phải không nhà triết gia Aristote?
Các nhà thần học kinh viện trong Công Ðồng Trentô đã lột mất chất sống thần bí nơi mầu nhiệm sống công chính hóa? Công Ðồng Trentô đã không thể giải thích được ơn công chính hóa đó đáp ứng vơi thầm vọng thời đại mới. Ơn công chính hoá sẽ được triển khai theo phạm trù khác cho Hội thánh và có lịch trình sống đạo thuận với khát vọng thời đại.
Phải có hể biến hoá khác mới mở ra phạm trù mới cho thần học hậu kinh viện?
Sao mà nan giải vậy!
30. Ðịnh nghĩa về ơn công chính sao mà khó vậy?
Ðịnh nghĩa thông thường ta quen làm là định nghĩa về yếu tính của sự vật. Ðịnh nghĩa về các vật dùng thì không làm thế là đủ. Làm định nghĩa về con người, về cộng đồng nhân sinh thì còn phải kể đến bản chất hiện sinh của chúng nữa.
Do đó, định nghĩa về Hội thánh, ngoài yếu tính, còn phải gồm cả phần bản chất hiện sinh. Ðịnh nghĩa về ơn công chính hóa con người cũng không thể chỉ xét theo là một tín điều mà đủ. Mầu nhiệm công chính hóa con người là một mầu nhiệm kép cả là tín điều, cả là mầu nhiệm sự sống siêu nhiên.
31. Sách Thứ luật được viết sau khi Jerusalem bị tàn phá. Tác giả muốn tìm giải thích các biến cố từ năm 722 và năm 586 trướÔc Công nguyên. Cuốn Ðịnh Bệnh chia rẽ Phong trào Tin lành với Giáo hội công giáo Rôma xuất bản năm 2003 chủ yếu nhắm giải thích đến tận cội nguồn gây nên chia rẽ. Ðúng vậy, kinh nghiệạm từ năm thế kỷ chia rẽ trôi qua cho phép giải thích nạn bế tắc trong sự nghiệp phát triển vận mệnh thầợn bí, cộng đồng của Hội thánh- Nhiệm thể. Sống không trúng qui luật phát triển đổi đời thần bí từ mô thức Giáo hội cơ chế sang là Giáo hội Nhiệm thể , đó là nguồn cội cuộc khủng hoảng Wittenberg. Các linh hồn tiên tiến trong đời sống Nhiệm thể sẽ có kinh nghiệm để kiểm nghiệm nhận định vừa kể. Sau bốn chục năm âm thần sống theo giáo lý mạc khải Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu, tôi được nhận một trực giác vô cùng quí trọng.Nhờ đó vào dịp chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh năm 2002, tôi nhận ra ngay chìa khóa cho việc hóa giải cuộc khủng hoảng Wittenberg.
31a.
Anh Cảnh thân, (28.7.2008)
Sau bốn chục năm sống theo mạc khải Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu (1962-2002) tôi viết cuốn Ðịnh bệnh chia rẽ kitô giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma. Cuốn đó là kết qủa một trực giác thần linh.Nó cho thấy phải sống có kinh nghiệm giáo lý mạc khải Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô (Eph 4, 11-16) mới thấy bộ chìa khóa hoá giải vụ chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma.
* Dù có được trực giác như nói trên, năm 2007 tôi săn lùng thêm các lý chứng cụ thể hầu làm sáng tỏ trực giác ấy. Tôi đọc lại giáo sử của nhóm Hubert Jedin. Nhóm này nhận định ông Luther khởi xướng một lối nhìn mới về ơn công chính hóa. Luther bắt đầu việc chỉ trích giáo hội công giáo vv. . .
Nhóm The New Catholic Encyclopedia nhận định Công Ðồng Trentô không dạy thêm được gì vào những điều mà vào thời nhà cải cách Luther quan tâm. Thời điểm thế kỷ XVI, ơn công chính hóa không chỉ nên coi như là một nguyên lý tín lý như thời phái Pêlagiô hay Á-Pêlagiô. Vào thế kỷ XVI, với nhân loại có hậu cảnh văn hóa mới là văn hóa nhân bản, ơn công chính hóa phải được nêu cao là một nhu cầu sống đạo, sống có mô thức mới và có qui trình phát triển diễn tiến thành nhiều tuổi đời hiện sinh. Sống Ðạo mở ra một đầu mối mới cho lịch trình phát triển vận mệnh thần bí cộng đồng Hội thánh, kể cả lịch trình phát triển vận mệnh thần bí cho người tín hữu cá nhân.
Sử gia John Dwyer, một sử gia đào sâu vào giáo sử . Ông có nhiều nhận định sâu sắc. Nhiều ý kiến độc đáo, táo bạo đặt ngược lại các phê phán hời hợt vốn chế ngự trong Hội thánh từ mấy thế kỷ nay trong lịch sử . . .
Hai năm sau khi xuất bản cuống Ðịnh bệnh choa rẹ kitô giáo, năm 2007, tôi tìm đọc lại giáo sử H. Jedin, bộ The New Catholic Encyclopedia và tác giả giáo sử John Dwyer. Tôi gặp thấy họ có quan niệm xét lại (révisioniste) giáo sử. Ðó là tinh thần mới cho khoa sử học hiện đại.
32.” Công Ðồng Trentô với ba không”.
a- Không bắt được hướng đi lịch sử của Hội thánh vào giữa thiên kỷ kitô thứ nhì.
(cũng không nắm bắt được hướng đi lịch sử nhân bản của khối nhân loại châu Âu đòi xa rời định hướng văn hóa siêu hình học & luật học cổ Hy-La). Do đó không nhận diện ra khát vọng sống đạo nơi các giáo hội Bắc Ðại tây dương (Ðức, Hà Lan, Anh à)
b- Không bắt được mạch sống thần bí của Hội thánh trong thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng Wittenberg là phải lấy mạc khải nào làm mô thức phát triển vận mệnh thần bí của Hội thánh cho kỷ nguyên mới, thay thế mô thức Hội thánh cơ chế phẩm trật.
c- Không bốc được bài thuốc thích hợp với cơn bệnh lúc xảy ra cuộc khủng khoảng chia rẽ của Phong trào Tin lành với giáo hội Rôma.
Cuộc khủng hoảng Wittenberg đúng là chưa gặp thầy, gặp thuốc.
33. Mục vụ thời kinh viện cổ điển chú trọng bảo vệ Giáo hội được tổ chức có cơ chế phẩm trật.
Mục vụ thời sống theo giáo lý mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu lại chú trọng phát triển vận mệnh thần bí cá nhân cho người tín hữu kitô. Ðồng thời chú tâm đến việc phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh qua các kỷ nguyên thần học khác với kỷ nguyên thần học kinh viện.
Chính trị thời xưa chú trọng bảo vệ an ninh quốc gia và bảo vệ chế độ quân chủ.
Ngược lại, Hội thánh thời nay chú trọng phát huy vận mệnh thần bí cá nhân người tín hữu kitô, đồng thời, lo phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của chính bản thân Hội thánh.Xã hội loài người có những kỷ nguyên văn hóa khác nhau, và Giáo hội kitô lại có những kỷ nguyên thần học kitô khác nhau.
34. Trong tuổi đời sống theo thần học kinh viện, tại sao Giáo hội đã không thể đưa ra định nghĩa về mình? Giáo hội mười lăm thế kỷ thời đó cứ nhìn theo chiều hướng ý thức phóng thể. Nhìn theo kitô học, lo các bí tích nên không có nhìn lại bản thân mình theo hướng phản tỉnh (rétrospection) lại cuộc sống. Phải chăng vì thế Công Ðồng Trentô không đưa ra được định nghĩa về Hội thánh (x. The New Catholic Encyclopedia, cuốn 14, trang . . .). Khi ông Luther xuất hiện, giáo lý về Hội thánh còn quá sơ sài về nội dung, chẳng có bài bản cho ra hồn. Ông Luther dạy một mớ giáo thuyết mới về Giáo hội khác nào như múa gậy vườn hoang. Giáo thuyết mới mắc nhiều điều sai lạc và đã được phổ biến rộng rãi một cách quá tự do. Muốn sửa chữa lại giáo thuyết của Phong trào Tin lành cũng không dễ.
Sau thời Công Ðồng Trentô, nhà thần học Rôbertô Bôrrômêô, Dòng tên (1542-1621) mới đưa ra định nghĩa về Hội thánh. Ðịnh nghĩa đầu tiên đó chỉ nói đến mô thức Giáo hội được tổ chức theo cơ chế phẩm trật. Có được một định nghĩa như thế, Giáo hội thời đó đã khá mừng rỡ và rất tự hào là một xã hội hoàn bị (societas perfecta). Giáo hội Rôma có một giáo thuyết về giáo hội học làm cơ sở vững vàng, với danh chính ngôn thuận để chống lại phong trào Tin lành. Giáo lý về tổ chức Hội thánh có cơ chế phẩm trật vẫờn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển sống đạo, chưa có khả năng vượt qua cuộc khủng hoảng Wittenberg.
Cuộc khủng hoảng Wittenberg có hướng đòi hỏi một giáo lý phát triển vận mệnh sống đạo, theo một mô thức tổ chức mới về Hội thánh Ðức Kitô với khả năng mở ra một kỷ nguyên thần học mới.
Thời Công Ðồng Vaticanô II, vị giáo hoàng Gioan-Phao-lô VI mới đưa ra trước các nghị phụ nhu cầu đòi có một định nghĩa mới xứng hợp cho Giáo hội. Ðề nghị chưa được thực hiện đến nơi đến chốn.
Năm 1999, tác giả Viễn Việt mới đưa ra định nghĩa mới về Hội thánh. Ðịnh nghĩa mới này bao gồm hai mạc khải về yếu tố quyền bính và cả yếu tố về bản chất Nhiệm thể. Hai cột mốc ấy dựng lên hai tuổi đời dài cho cuộc sống Hội thánh-Nhiệm thể. Quãng đời sống giữa hai mô thức ấy cũng đã là một tiến trình hiện sinh thần bí dài rất hệ trọng, vì nó là một cuộc đổi đời ngay chính bản thân chủ thể vặn mình theo lối xoáy trôn ốc chứ không trườn trựợt giản đơn ruột ngựa.
Ðịnh nghĩa Bellarminô củng cố cơ chế & trật tự giáo hội. Ðịnh nghĩa 1999 đáp ứng nhu cầu sống đời nội tâm ngày nay cần phát triển bản chất hiện sinh của Nhiệm thể Chúa Giêsu đối trọng lại nội dung cổ điển.
(01 July 2007)
35. (30.7.2007)
Có thực CÐ Vaticanô II chọn mạc khải Nhiệm Thể Chúa Giêsu làm cột mốc cho sự phát triển Hội thánh không? Hay đó chỉ là ước vọng của nhiều ít phần tử cá nhân trong Hội thánh. Cần xác minh với bằng chứng cụ thể rằng Giáo hội chính thức chấp nhận mạc khải NTCG là mô thức cho sự phát triển vận mệnh Hội thánh sang một tuổi đời mới.
Cho dù Công Ðồng Vaticanô II có chọn lựa mạc khải NTCG làm cột mốc, nhưng có thực sự coi cột mốc đó làm mô thức mới cho sự phát triển vận mệnh Hội thánh vào tuổi đời mới của Hội thánh không?
Tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa lần ra thứ tự các khâu của cuộc khủng hoảng tài chính Ðông Á năm 1997. Khủng hoảng ngoại hối bất ngờ bùng nổ tại Thái lan rồi lan thành khủng hoảng tài chánh tại Nam Hàn, Indonesia, Malaysia và gieo họa kinh tế, xã hội, thậm chí cả chính trị cho nhiều xứ Ðông Á trước khi lây ra cả thế giới. (x. Việt Báo , ngày 20/6/2007).Sao nay chúng ta không lần lượt phân giải ra thứ tự các khâu cuộc khủng hoảng Wittenberg? Có bình tĩnh lần giở thứ tự các khâu đó mới dễ nhận diện ra diễn biến cuộc khủng hoảng theo nhiều dạng khác nhau. Có thế mới thấy cuộc khủng hoảng Wittenberg mang tính toàn diện và có hệ thống sâu xa. Như thế mới cắt ra thứ tự đủ từng vị thuốc thích hợp cho toàn con bệnh. Những bài thuốc đơn lẻ không đủ chữa chạy chứng bệnh và con bệnh.
Từ đầu năm 1959, trước khi có Công Ðồng Vaticanô II, tôi có định luật Bônifaxiô về hai cột mốc như hai mô thức phát triển vận mệnh Hội thánh trong dòng lịch sử. Trước khi giáo triều lập các ủy ban dự bị Công Ðồng Vaticanô II, tôi đã nhận được thị kiến về Công Ðồng Munchen (12.3.1959). Thêm nữa, sau đó lại đã có chút kinh nghiệm phát triển thần bí bản thân theo mạc khải NTCG. Phải chăng vì thế tôi đã sớm có chủ kiến mà nhận định rằng: giáo huấn CÐ Vaticanô II đã cắm được cột mốc mới cho sự phát triển Hội thánh sang tuổi đời mới theo mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu? Nhận định như thế phải chăng là hơi quá sớm.
Phải dè dặt xét lại nhận định của mình về Công Ðồng Vaticanô II? Có phải vì chủ quan mà tôi vội hô hoán lên là Công Ðồng Vaticanô II đã thực sự chọn mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu làm cột mốc mới cho sự phát triển vận mệnh thần bí của Hội thánh-Nhiệm thể? Nếu Công Ðồng Vaticanô II không thực sự chọn mạc khải NTCG như mô thức mới cho sự phát triển Hội thánh Ðức Kitô thì tôi biết đường mà trình bày với Giáo hội mầu nhiệm NTCG. Việc động viên Dân Thiên Chúa cần trình bày sát hợp với mức tâm thức Giáo hội lúc này mới dễ kết quả.
(30. 7. 2007)
36. Kinh nghiệm về Nhiệm thể Chúa Kitô theo dòng lịch sử.
Ngay sau khi xuất bản cuốn Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu, tôi đã thấy ngay là nên có một cuốn “Kinh nghiệm sống theo mạc khải Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô từ các thánh trong lịch sử”. Cuốn Linh đạo mới phác vẽ ra con đường mang nhiều tính lý thuyết. Cần trưng kinh nghiệm phong phú từ các thánh nhân trong lịch sử Hội thánh. Lời nói bay qua, gương lành mới thu hút. Kinh nghiệm thần bí trưng trong cuốn Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu mới chỉ là một mớ đốm sáng ít ỏi, tạm chấm phác ra mấy nét sơ lược.
Nay đọc Yves Congar với phần viết mang tựa đề “Kinh nghiệm về Thần Khí trong dòng lịch sử” trích cuốn Je crois en l’Esprit” tôi càng thấy cần sớm viết phần khảo luận như vừa nói trên. Tuy nhiên để viết phần đó, tôi cần lui tới tham khảo những thư viện phong phú có hạng bậc nhất. Hiện tình chưa cho tôi gặp một thư viện có tầm cỡ thật lớn ấy. Cần trích tài liệu giáo phụ học. (08 August 2007)
(28.7.2008)
* Hằng năm, người kitô có nhiều dịp nghe trích đọc thư Rôma. Ðược bao nhiêu người từng đọc lần lượt trọn bộ thư đó?
Nếu bạn từng đọc trọn bô thư Rôma, xin hỏi mấy câu sau đây.
Bạn có thấy thư Rôma chứa chất rất nhiều mầu nhiệm sống đạo cho người kitô?
1. Bạn có thể kể tạm ra mấy cột mốc sống đời tu đức thần bí của người tín hữu Kitô trong đó không?
2. Bạn có thấy những mô thức sống đạo nào nổi bật cho cá nhân người kitô?
3. Mặt khác, bạn có thể kể ra mấy cột mốc lớn cho đời sống đạo cộng đồng của Hội thánh chăng?
4. Bạn có thể hình dung ra mấy mô thức sống đạo cộng đồng cho vận mệnh Hội thánh Ðức Kitô xuyên suốt kiếp sống lưu đày trần thế này không. Nhà thần học Avery Dulles kể ra đến bảy mô thức.
5. Nơi thư Rôma có một qui trình phát triển vận mệnh thần bí cá nhân người kitô?
6. Tương tự thế, nơi thư Rôma có một qui trình phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh Ðức Kitô xuyên suốt mọi thời đại?
*** THƯ RÔMA
Diễn giải
Tại sao sáng nay tôi lại nảy sinh ý nghĩ viết cuốn “Thư Rôma Diễn Giải”? (29.7.2008)
Ngoài phần chú giải theo thông lệ như các dịch giả xưa nay, tác phẩm Thư Rôma Diễn Giải còn có thêm phần bình luận các trọng điểm. Hơn nữa, Phụ Lục còn đào sâu với nhiều đề tài như kể sau đây.
a/ Linh đạo phát triển mầu nhiệm công chính hóa nơi người tín hữu cá nhân và
b/ Linh đạo phát triển mầu nhiệm công chính hóa nơi cộng đồng Hội thánh-Nhiệm thể.
Chính các đề tài này sẽ đưa người đọc thời nay Tin lành cũng như Công giáo đồng lòng kết luận mầu nhiệm công chính hóa thực là mầu nhiệm sống đạo cho Hội thánh trải dài cuộc sống thần linh của mình.
1. Cần trình bày thư Rôma chứa đựng một linh đạo sống đời công chính hóa thành một vận mệnh thần bí cho cá nhân người tín hữu kitô xuyên suốt cuộc đời họ.
. . .
2. Cần trình bày thư Rôma chứa đựng một linh đạo cho Hội thánh sống đời công chính hoá thành một vận mệnh thần bí, cộng đồng xuyên suốt kiếp sống lưu đày trần thế.
. . .
3. Thư Rôma ban bố mạc khải làm cơ sở cho mọi thời phát triển thần học tùy theo hậu cảnh văn hóa từng thời đại sau này.
. . .
4. Nói lên tính thích hợp thời đại văn hóa thực nghiệm nhân văn & nhân bản và thực nghiệm khoa học & kỹ thuật ngày nay
. . .
5. Lý giải công việc Phong trào Tin lành xướng xuất đòi hỏi cải cách về sống đạo là thật chính đáng.
. . .
6. Làm nổi bật lịch trình phát triển định luật giáo sử Bônifaxiô gồm hai kỷ nguyên thần học, và vận mệnh Hội thánh trong dòng lịch sự hiện nay được phát triển ổn định trở lại.
. . .
7. Thư Rôma, cách riêng Mầu nhiệm sống công chính hoá lại trở nên nguyên cớ chia rẽ nát Kitô giáo ư? Hẳn không phải tại thư đó, Thư Rôma phải được nhìn trở lại là nguyên nhân đại kết, khi mầu nhiệm sống công chính hóa (Rom 1, 17) được giải thích phục hồi bản chất nguyên thủy là mầu nhiệm Sống Ðạo.
8. Nên chăng có tác phẩm “Lộ trình sống đời công chính hóa theo thư Rôma”? Linh đạo mới là gợi ý, Lộ trình chỉ ra những bước đi phù hợp những điều kiện và môi trường cụ thể hơn.
9. Ơn công chính hóa nơi thư Rôma (Rm 1, 17) không chỉ nên coi như là một tín điều suông. Chỉ tám chương đầu thư Rôma đã giảng dạy cả một lộ trình phát triển vận mệnh gồm nhiều bậc thần bí rất cao vời.
(29.7.2008)
* (28.7.2008)
1. Vì không được nghe biết có một linh đạo phát triển vận mệnh thần bí cá nhân người tín hữu kitô, hồi tuổi đôi mươi, tôi bị khủng hoảng về tu đức làm tê liệt mọi chuyện đến phải lặng lẽ rút lui xa rời linh mục linh hướng mà tôi đã nhận từ 4 năm trước.
2. Vậy Hội thánh Ðức Kitô có bị khủng hoảng nặng nề, vì thiếu một linh đạo phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng cho Hội thánh không? Chắc là không sao tránh khỏi những khủng hoảng lớn, tỉ như cuộc khủng hoảng Wittenberg thế kỷ XVI. Khủng hoảng của Giáo hội Rôma trước cao trào phát triển nền văn hóa nhân bản.
3. Ðịnh luật giáo sử Bônifaxiô giải thích lịch sử Hội thánh Ðức Kitô là một lịch trình phát triển gồm hai kỷ nguyên thần học. Ðịnh luật đó tháo gỡ được viễn tượng bất an cho Hội thánh khi chưa thấy hướng đi cụ thể của Hội thánh không?
4. Cuốn Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu (năm 2005) nêu bật được mấy cột mốc tu đức thần bí, cộng đồng của Hội thánh (trang 76). Như thế có gợi ý cho thấy những tuổi đời thần học (tức các kỷ nguyên thần học) của Hội thánh chăng?
Ðó có phải là những cột mốc cắm chăng cho lịch trình phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh chăng?
5. Nên xét lại vai trò & sự nghiệp Công Ðồng Trentô đối với vận mệnh Hội thánh.
*––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––*
Công Ðồng Trentô:
một Bà giáo còn yếu tay nghề ?
Tóm tắt với vài lý do chính yếu sau đây:
1. Không nhận định trúng thầm vọng sống đạo theo yêu cầu của Phong trào Luther để hướng dẫn và sửa sai thích đáng.
2. Không khai triển đúng lúc một cuộc đổi đời thần bí cho vận mệnh Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu
3. Ông Luther và Phong trào Tin lành không biết trình bày một cách đúng đắn nhu cầu sống đạo như nhiệm vụ chiến lược thời đại.
4. Giáo hội Rôma phải tìm một mô thức công giáo mới có văn hóa thực nghiệm nhân bản riêng cho các giáo hội địa phương vùng Bắc Ðại tây dương và cũng là cho cả chính Giáo hội công giáo Rôma trong kỷ nguyên thần học thời đại mới.
5. “Redoing” the Reformation, and recognizing the exaggerations and one-sidedneeds of both Catholics and Protestants during the sixtheenth century. (x. Dwyer, Church Hitory, trang 282)
6. Tựa đề mới:
Hội thánh Ðức Kitô và cuộc khủng hoảng sống đạo ngày nay
(29.7.2008)
************************************
Cải Cách tổ chức & sinh hoạt Giáo xứ
(2 Aug. 2007)
Ngày nay ai cũng thấy phải cải cách giáo xứ. Hồng y J.Ratzinger cũng thấy như vậy. Giáo xứ vốn đã giữ môt vai trò rất tốt và luôn luôn cần thiết. Nhưng phải cải cách thế nào đây? Có dựa vào cơ sở canh tân Giáo hội theo mô thức mới nào như mô thức Hội thánh-Nhiệm thể chăng? Nhu cầu cụ thể ra sao? Hãy phác hoạ những nét cụ thể. Cải cách về vai trò hoạt động của giáo xứ, về phương thức điều hành theo nhân sinh quan động mà thôi chăng?
* * *
Từ hàng nghìn năm nay, Giáo hội chú tâm một chiều là lo việc tiếp thu giáo lý, tức là lo khắc sâu giáo lý kitô (indoctrination) mà chẳng quan tâm bao nhiêu đến việc biến đổi đời sống người kitô có bài bản. Thiếu hẳn việc kế hoạch hóa (planning) đời sống tu đức người tín hữu kitô.Cuộc đời chia ra hai phần, nửa trước nhắm thấm nhuần giáo lý Kitô (indoctrination) bắt nguồn từ Thiên Chúa làm khởi điểm; nửa sau nhắm thiết kế đời sống tu đức (planning) người tín hữu để giúp họ trở về kết hợp với Thiên Chúa là cùng đích.
* Ðời sống cây cối có tuổi đời theo các qui luật phát triển rất khoa học và có ngăn nắp thứ tự.
Ðời sống loài vật cũng có tuổi phát triển theo các qui luật càng tinh tế hơn nhiều. Chừng nào con vật trưởng thành, sinh con đẻ cái vv . . . Chữa bệnh cho con mèo khó khăn hơn chữa bệnh cho cấy cối trong rừng già.
Ðời sống tâm lý con người không có những qui luật và qui trình phát triển bẩm sinh sao? Loài người có đời sống muôn nghìn lần tinh vi, kỳ diệu hơn muôn vật cấp dưới chứ? Bệnh ngốc của loài người là đổ bao nhiêu tỷ bạc lo thám hiểm các thiên thể xa lắc hàng mấy trăm ngàn cây số, còn về bản thân, loài người lại thiếu những hiểu biết cần thiết và đủ về con người mình!
Ðời sống sinh lý con người mới càng kỳ diệu hơn thế. Nền sinh vật học ngày nay đi vào khám phá cấu trúc và các qui luật phát triển gien. Loài người pha giống lai tạo động vật và tạo nên con người theo kỹ thuật cloning, mà không nhìn ra bàn tay Thiên Chúa (x. Gerarld L. Schroeder, The Hidden Face of God) ngay nơi cơ thể kỳ diệu con người.
Thâm tâm ai cũng nhận thức chính cuộc đời mình là một dòng chảy mang nhiều bí mật, nhưng thiên kỷ thứ ba này rồi mà khoa tâm lý học thực nghiệm không sao có một định luật giải thích vận mệnh tâm lý con người, để con người sống biết làm người hơn.
Ðó là ngay trong lãnh vực khoa học nhân văn bậc tự nhiên thấy hàng ngày. Còn đời sống thần linh người kitô thì sao nhỉ? Giáo hội học với nội dung mới phải đi vào khám phá cấu trúc và các qui luật phát triển vận mệnh thần bí người tín hữu kitô. Chao ôi! Ngốc hết chỗ nói. Ðức kitô đã chẳng phàn nàn dân chúng bơ phờ sống vất vưởng như chiên không có người chăn (Mt 9, 35-36). Mỗi tín hữu phải được học hỏi về căn tính (identity) thần linh của mình và cần có kế hoạch xây dựng vận mệnh thần linh riêng từng người. Chính bản thân Hội thánh cũng thiếu một linh đạo phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của mình! Cho nên cuộc sống của Hội thánh cũng đầy phiêu lưu và gặp nhiều khủng hoảng loạn xạ như vụ chia rẽ giưã Phong trào Tin lành Bắc Âu với giáo hội Rôma Nam Âu.
* Một khi Hội thánh có định nghĩa mới bao gồm cả mặt bản chất hiện sinh thì nhiệm vụ của giáo xứ cũng cần thay đổi. Khi đó giáo xứ không phải chỉ có chức năng và nhiệm vụ hành chánh như thấy hiện nay mà thôi. Giáo xứ sẽ có nhiệm vụ hướng dẫn việc sống đạo có kế hoạch. Giáo xứ không phải chỉ lo quản trị việc giảng dạy và thực hiện các bí tích. Mà còn phải lo hướng dẫn thiết kế (planning out) việc sống đạo cho mỗi tín hữu nữa. Hai anh Thông và Vũ, có phải Phong trào Cursillo không lo việc hướng dẫn thiết kế đời sống đạo cho các hội viên chăng? Tôi khác Phong trào Cursillo.
* Ðâu là thách đố khó khăn nhất đối với Công đồng Trentô?
Có phải là đưa ra định nghĩa (definition) về giáo lý ơn công chính hóa chăng?
- Thưa : không, phần việc khó khăn nhất của Công Ðồng Trentôlà khai triển đời sống thần bí của Hội thánh, đáp ứng tuổi đời ngày nay của Giáo hội, chứ không phải chỉ là lo định nghĩa giáo lý về ơn công chính hóa. Nói cách khác, đó là lo Sống đạo, chứ không phải chỉ là lo biết đạo, giữ đạo như hàng ngàn năm lịch sử thời kinh viện về trước. Ðòi một sự chuyển biến từ thấm nhuần tín lý (endoctrination) sang sống theo linh đạo (spiritualité).
- Sống đạo thì đòi có mô thức sống mới, và phải có qui trình phát triển đời sống đạo cho cá nhân tín hữu, và đòi có cả qui trình phát triển đời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể nữa. Sống đạo đòi thay đổi mô thức “theo đạo” & giữ đạo trước đó.
Sống đạo là hiện thực hóa (actualisation) mầu nhiệm công chính hóa trong đời sống cụ thể của người tín hữu, không phải là chỉ tìm hiểu giáo lý kitô và làm định nghĩa về giáo lý công chính hoá mà thôi. Thưa phải sống giáo lý Kitô để trở nên những kitô khác. Nay đòi một cuộc đổi đời. (lúc 020114G08/2008)
* Câu hỏi đêm nay đặt lại khác với câu hỏi của nhóm sử gia Hubert Jedin. Nhóm sử gia đó đặt lại vấn đề về định nghĩa, chứ không đăỳt vấn đề về sống đạo. Ðặt vấn đề về làm định nghĩa là cách quan niệm theo đường hướng triết học & thần học kinh viện cổ điển; Công Ðồng Trentô đi theo chiều hướng đó. Như thế không đáp ứng được tâm thức & nhu cầu sống đạo theo thần học Nhật nhĩ man mà ông Luther thừa hưởng. Sống đạo mới là nhu cầu quyết định nhất và là thách thức khó khăn nhất vào thời điểm lịch sử hiện đại. Có bắt được đầu mối sống đạo theo mầu nhiệm công chính hóa mới là nắm được bước ngoặt mới cho vận mệnh Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu.
Lo làm định nghĩa mà không lo khai triển việc sống đạo là chưa hiểu thầm vọng nơi anh em Phong trào Tin lành.
* Phải từng trải những bậc thần bí nào nơi bản thân, người tín hữu kitô mới có khả năng giải thích cuộc khủng hoảng chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội Rôma?
Cuộc khủng hoảng đólà mối trục trặc xảy ra nhân cuộc đổi đời từ bậc thần bí “cảm nghiệm ơn tiền định đời đời trong Thiên Chúa Ba Ngôi” chuyển biến sang bậc “cảm nghiệm sống mầu nhiệm Nhiệm thể Chúa Giêsu”. Có nên đặt tên cho hai bậc tu đức thần bí vừa kể đây chăng? Thưa: rất nên, các nhà thần bí nên cân nhắc ích lợi việc đăỳt tên có hiệu quả sư phạm trong trường hợp xây dựng môn thần học thần bí, cộng đồng của Hội thánh.
- Nên đọc lại nhóm tác giả The New Catholic Encyclopedia. Họ đòi có cái
nhìn mới về ơn công chính hóa, và mới mẻ ra sao. Xem cả của sử gia Dwyer nữa.
*********************************************
1. Tại sao khó quảng bá giáo lý về quyền tư tế vương giả?
Theo kinh nghiệm bản thân, tôi thấÔy những khó khăn nào đã gặp phải?
Khi chưa sống trải qua bậc cảm nghiệm ơn tiền định thì khó hiểu được quyền tư tế vương giả, phải không?
Biện pháp khắc phục cần có.
2. Cần có một hậu cảnh (arrière-plan) tâm lý ra sao cho việc giáo dục về quyền tư tế vương giả nơi người tín hữu? Một định luật phát triển vận mệnh tâm lý con người xuyên suốt cuộc đời là hậu cảnh thuận lợi và cần thiết.
3. Tới tuổi tu đức nào, người tín hữu kitô mới thấm thía cảm nghiệm ra rằng: Ơn cao cả nhất cho đức Maria là “ơn được cứu chuộc” (Lc 1, 47).
Tôi đã từng bắt chước mà đọc hằng ngày kinh Ngượi khen (Magnificat) nhưng rồi sau một thời gian ngắn đã bỏ cuộc. Lúc đó tôi còn sống ở chặng tuổi soi chiếu (vie illuminative), chưa được ơn bước lên bậc chiêm niệm thiên phú (contemplation infuse). Phải hơn mười năm sau nữa tôi sống tới tuổi cảm thấy có hứng thú bền bỉ có thể đọc được hằng ngày kinh Magnificat. Lúc sau này, tôi đã được Chúa thương cho cảm nghiệm say sưa về ơn tiền định đời đời trong Chúa Ba Ngôi (Eph 3, 1-14). Ðược cảm nghiệm say sưa công ơn cứu chuộc mới nhận ra ơn cao trọng nhất cho Mẹ Maria, đó là ơn cứu chuộc bởi Ðức Giêsu, Cứu thế.
4.
5.
6.
7.
8
9. “Tư tưởng có thể là sâu sắc, thâm trầm nhưng dở vềợ kỹ thuật diễn tả”.
Người ta phê bình tôi như thế, thật chính xác. Từ xưa nay tôi vốn viết văn một cách cô đọng quá mức. Thường tôi lại hay hãnh diện về lối viết cô đọng mà cho là sâu sắc nữa. Tháng 8 vừa qua, tôi đã gặp một vố đau. Nhân bài víết tựa đề”Góp ý với Hồng y Phạm Minh Mẫn”, Diễn Ðàn Giáo dân không chịu đăng.
Bài viết thiếu sáng sủa, không làm nổi bật mấy ý chính. Nửa bài trên thì khen Hồng y, nửa bài dưới thì chê hàng giám mục Việt Nam. Phần đề nghị bị lạc lõng, không làm nổi bật ước muốn của người viết là đề nghị với Hồng y Phạm minh Mẫn nên đưa những nhận định của Ngài vào Thư Chung mục vụ của Hội đồng giám mục Việt nam năm 2007. Tâm tình và thể lý tôi như bị thắt giữa hai ngả, không sao cởi mở ra cho khéo léo và nhịp nhàng được. Ý thức cứ muốn khép lại, chẳng buồn thu thập thêm dữ kiện, bút không chịu mở rộng, đôi vai xo lại. Tôi cũng chẳng mấy tha thiết được đăng bài đó. Anh TPV chê là bài víết kém hẳn các bài trước, khiến anh cũng khó nắm bắt được chủ đích tác gỉa!
* Tình trạng sinh học khô khan.tâm tư không thoải mái (easy-going). Ðang khi bận tâm lo viết đề tài hóc búa phê phán vai trò còn dang giở của Công Ðồng Trentô thế kỷ XVI. Thất bại là phải! Sở trường của tôi là viết sách với đề tài lớÔn, và hiểm hóc, nhưng yếu kém hẳn về thuật trình tả sự kiện và diễn tả tâm tình.
(13 Sept. 07)
10. Lộ trình sống đời công chính hóa hàm chứa nơi thư Rôma
(10 Jan. 2008)
Thư Rôma vừa là thiên trường ca tín lý về ơn công chính hóa (justification) lại vừa chứa một linh đạo sống đời công chính hóa phát triển viên mãn (Rom 12).
Tuy nhiên, từ buổi đầu đời, Hội thánh trước hết phải khai triển thư Rôma là một giáo lý tín lý. Văn hóa siêu hình học & luật học cổ Hy-La là hậu cảnh rất tốt cho việc quảng diễn giáo lý đó cho toàn Dân Chúa thấm nhuần để Hội thánh trở nên một Hội thánh kitô giáo, khác hẳn các giáo hội của các tôn giáo nào bất cứ.
Từ thế kỷ XVI trở đi loài người cụ thể khời đầu từ châu Âu đã thay đổi vận mệnh của mình từ đường hướng văn hóa siêu hình học cổ điển sang nếp sống văn hóa thực nghiệm nhân văn & nhân bản. Theo hậu cảnh văn hóa mới, châu Âu và loài người có một lối nhìn mới, đòi mới cả về mặt sống tôn giáo. Thư Rôma cũng cần được nhìn và giải thích theo quan điểm văn hóa thực nghiệm nhân bản. Người thời nay cần được nghe giải thích thư Rôma theo là một lộ trình sống đạo. Giáo hội tại vùng ngôn ngữ Ðức nổi bật với nhu cầu đó hơn ai hết. Họ là khối chủ lực cho Giáo hội quốc tế thời nay.
Vì thư Rôma không được giải thích theo phương diện triết học hiện sinh, đã nảy sinh Phong trào Tin Lành quốc tế. Nay phải trở lại việc khai triển từ thư Rôma một lộ trình sống đời công chính hóa cho cá nhân người tín hữu kitô.
1.
2.
3. Nhờ linh đạo Cát-minh giúp dễ nhận ra thư Rôma hàm chứa một lộ trình phát triển đời sống công chính hóa với nhiều tuổi đời tu đức thần bí cho cá nhân người tín hữu? Ðờợi sống tu đức xảy ra cụ thể nơi các tín hữu cũng giúp khám phá ra lịch trình sống đời công chính hóa là một linh đạo hiện thực.
Như thế giúp độc giả thời nay càng dễ thấy giá trị tuyệt hảo của thư Rôma
(10 Jan. 2008)
4. Nhờ định luật bản ngã tâm lý (personnalité) như hậu cảnh văn hóa giúp dễ nhận ra thư Rôma hàm chứa một lộ trình phát triển đời sống công chính hóa với nhiều tuổi đời tu đức thần bí? Nếu có sẵn định luật phát triển vận mệnh nhân bản của cộng đồng nhân loại, sẽ nhờ hậu cảnh (arrière-plan) văn hóa đó mà dễ nhận ra nơi thư Ephêsô một linh đạo phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể Ðức Kitô.
5. Một khi đã phác họa ra lộ trình phát triển sống đời công chính hoá cho cá nhân tín hũu kitô thì lại nảy sinh ra cơ may khác. Ðó là phác họa ra lộ trình phát triển sống đời công chính hóa của chính bản thân Hội thánh-Nhiệm thể.
6. Lúc đó sẽ nhờ môn xã hội học có định luật Bản tướng nhân loại làm hậu cảnh để trình bày lộ trình phát triển đời sống công chính hoá nơi Hội thánh-Nhiệm thể.
7.
8.
9.
10.
Kết luận
Thư Rôma chứa đựng một linh đạo bao gồm các cột mốc sống đạo thiêng liêng thật đầy đủ hơn hẳn các thư Côrintô.
? ? ? Nguyên nhân nào khiến tôi năm 1952 xa rời vị linh hướng?
Tôi khẳng định được nguyên nhân đó ngay từ khá sớm. Tôi thấy đời tu đức của mình đâm trì trệ sau bốn năm nhận vị linh mục Ða-minh Tây ban nha linh hướng. Theo truyền thống kinh viện, vị linh hướng không cho tôi học được linh đạo phát triển đời sống nội tâm có bài bản với những tuổi đời tu đức cụ thể. Kinh viện có ưu điểm đào sâu vào tín lý hơn là chuyển hóa sang đời thần bí. Sự thiếu học biết một linh đạo như thế đã sớm được bù đắp ngay trong năm 1952. Tôi tìm đọc sách và gặp được nơi linh đạo Cát-minh một linh đạo phong phú hơn Ðường Thơ ấu thiêng liêng của chị Têrêsa HÐG.
Kinh nghiệm tu đức bản thân ấy giúp gì cho việc tìm hiểu nguyên nhân cuộc Cải cách của ông Luther không?
Nguyên nhân nào gây nên cuộc khủng hoảng WITTENBERG 1517?
Có phải cũng vì thiếu một linh đạo phát triển đời sống công chính hoá xuyên suốt cuộc đời thần bí người tín hữu cá nhân không? Có phải còn vì thiếu nơi bản thân Hội thánh một linh đạo phát triển sống mầu nhiệm công chính hóa (Rom 1, 17) qua nhiều tuổi đời dài (tức kỷ nguyên thần học) xuyên suốt kiếp lưu đày trần thế?
Có nguyên nhân chung cho hai cuộc khủng hoảng tu đức thần bí chăng?
1. Những nguyên nhân nào hồi năm 1952 và1953 khiến tôi dứt khoát xa lìa hẳn vị linh hướng?
Thấy ngài không giới thiệu cho tôi được linh đạo phát triển đời sống công chính hóa xuyên suốt cuộc đời người kitô (Rom 1, 17)? Mấy tháng sau đó, tôi gặp được linh đạo Têrêsa Avila với bảy bậc cầu nguyện, tôi có đáp số cho bài toán. Chỉ việc dấn thân tu đức và rồi tuần tự gặp các lời giải cụ thể là khai thông dần bế tắc chết người. Phải chăng dòng Ða-minh với truyền thống “indoctrination” theo thần học kinh viện xem ra có khuynh hướng nghịch chiều với việc phác vẽ ra linh đạo động viên các linh hồn về mặt sống đạo như các tu hội hiện đại thời nay (?)
Cuộc khủng hoảng năm 1952 là cuộc khủng hoảng vì thiếu nghe biết có lộ trình phát triển đời sống thần bí cá nhân người tín hữu kitô. Ðúng, đó cũng là kinh nghiệm cá nhân giúp suy ra tình trạng Hội thánh Ðức Kitô. Vào cuối thời trung cổ, Hội thánh Ðức Kitô thiếu lộ trình sống đời công chính hóa (Rom 1, 17) cho loài người sống vào thời đại văn hóa nhân văn & nhân bản hiện đại. Nhưng bấy lâu chưa dễ nhận định ra điều nghịch lý ấy, phải không các nhà thần học Ðức (theologia germanica) từ thế kỷ XIV? Ông Luther cũng chẳng giới thiệu được một linh đạo sống đời công chính hóa cho có bài bản giáo khoa minh bạch, nên ông quẫn trí dễ công kích lung tung. Ông bị phạt vạ tuyệt thôngỳ. Vạ này sang thế kỷ XVI không đe dọa ông tới chỗ mất tính mạng như hồi thế kỷ XV! Và cuối thế kỷ XX, Giáo hội Rôma đã chính thức hủy bỏ vạ ấy rồi,
- Nguyên nhân căn cội nào gây nên cuộc khủng hoảng Wittenberg 1517? - Phải chăng là vì Giáo hội bị bế tắc, không gặp được linh đạo phát triển đời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể? Ông M. Luther và Phong trào Tin lành chưa nắm bắt được lọạ trình sống đạo nên đâm ra giải thích lung tung, gây nhiều hỗn loạn và phân hóa. Ngược lại, Giáo hội Rôma cũng không định được bệnh, chẳng cung cấp được bài thuốc thích hợp với cơn bệnh. Giới lãnh đạo Giáo hội thiếu kinh nghiệm thần bí bản thân! Kể cũng khó có kinh nghiệm lắm. Tác phẩm Theologia germanica (!)chưa giúp nổi ông Luther có sáng kiến mới. Sách Noi Gương Chúa Giêsu (De Imitatione Xti) chỉ nêu đòi hỏi tu đức hướng vào nội tâm, chứ cũng không trình bày ra một linh đạo phát triển đời nội tâm có bài bản với nội dung trước sau diễn tiến cụ thể ra sao. Dĩ nhiên, nếu ông Luther đã có một linh đạo tu đức phát triển thần bí qua nhiều tuổi đời người tín hữu thì thật đã phúc lớn cho Hội thánh Ðức Kitô! Cuộc khủng hoảng Wittenberg đòi hỏi một cuộc canh tân lớn về tu đức học và đòi xây dựng một khoa thần học về Giáo hội.
Nếu có một linh đạo đúng đắn khai thông bế tắc và hướng dẫn việc sống đạo, thì có thể đã tránh được cuộc khủng hoảng và Hội thánh Ðức Kitô phát triển ổn định với hậu cảnh văn hóa thực nghiệm chân chính như Công Ðồng Vaticanô II ngày nay mong ước nơi Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 44.
Có thật cuộc khủng hoảng Wittenberg xảy ra là vì thiếu một linh đạo phát triển đời sống thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể chăng? Cần đưa ra thêm nhiều chứng minh cụ thể cho lập luận mới mẻ này.
Có thật là cần một linh đạo khai thông bế tắc mạch sống vận mệnh thần bí của Hội thánh như thế không?
Cuộc khủng hoảng Wittenberg là một cuộc khủng hoảng thần bí, khủng hoảng về vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể. Linh hồn nào trải qua kinh nghiệm thần bí ở bậc xuất thần ngất ngư thì dễờ nhận ra nguồn cội cuộc khủng hoảng nhân vụ Wittenberg.
Nay trong Hội thánh có khả năng khám phá ra một linh đạo phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng Hội thánh-Nhiệm thể không?
Xin Chúa Thánh Thần hãy phán vì Dân Chúa đang lắng nghe (ISam 3, 10) (10 Jan. 2007)
** Phụ lục.
Nhờ rút kinh nghiệm lịch sử sau năm thế kỷ, nay nói được rằng người thời nay có nhiều điều kiện thấu hiểu bản chất sâu xa cuộc khủng hoảng Wittenberg hơn hẳn thời Công Ðồng Trentô. Tuyên ngôn Augsbourg 1999 cũng đòi hỏi cả những hiểu biết liên quan đến hậu cảnh văn hóa thời nay để có những cái nhìn mới về ơn công chính hóa. Cần có tinh thần khoan dung, và biết khiêm nhượng sửa sai bất cứ từ phía nào. (17.01.2008)
* Nên chăng có riêng đề tài dài mang tựa đề: “Công Ðồng Vaticanô II và mạc khải Nhiệm thể Chúa Giêsu?
Nếu có tác phẩm mang tựa đề đó, sẽ giúp được nhiều ích lợi lớn lao.
1. Giúp hiểu biết tốt Công Ðồng Vaticanô II
2. Khẳng định chính thức việc lấy mầu nhiệm Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô làm giáo lý trung tâm của giáo huấn Công Ðồng Vaticanô II và cắm một cột mốc cơ bản thứ nhì cho sự phát triển vận mệnh thần bí của Hội thánh.
3. Kích thích lòng mộ mến Công Ðồng và giúp tín hữu sống theo giáo huấn Công Ðồng Vaticanô II
xx
4. Hậu qủa là khai triển sâu rộng giáo huấn Nhiệm thể Chúa Giêsu
xx
5. Có khả năng mở đường khai lối cho sự khai mở Công đồng mới về sau
xx
6. Nhắm xây dựng một thế hệ tín hữu công giáo người Việt say mê nghiên cứu thần học kitô và coi đó như là một yếu tố tạo lập sự trưởng thành của Giáo hội Việt Nam.
7. Phải thay đổi lại nhận định của dư luận chung nơi Giáo hội công giáo suốt gần năm thế kỷ nay về vai trò và sự nghiệp Công đồng Trentô. Ðiều đó tôi cũng đã mắc phải nhiều thiếu sót trong việc nhận định Công Ðồng Trentô suốt giữa thế kỷ XX cho tới mấy năm gần đây.
Phải đào sâu vào cuộc khủng hoảng Wittenberg và tìm hiểu sâu rộng sự nghiệp Công Ðồng Trentô mới khám phá ra các nhận định mới mẻ và thích đáng.
a/ Sách Thứ luật đào sâu vào 10 giới răn hơn hẳn sách Xuất hành.
b/ Trình thuật Phúc âm của thánh sử Gioan đào sâu vào cốt lõi Tin Mừng hơn hẳn ba trình thuật Phúc âm nhất lãm.
c/ Một cách tương tự, việc nghiên cứu về cuộc khủng hoảng Kitô giáo thế kỷ XVI cũng đòi đào sâu vào căn tính (identité) của Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu qua các định luật phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh.
* Ðọc lại J. C. Dwyer
Cuốn Church History của sử gia John C. Dwyer, tôi mua tháng 7 năm 2002. Khi mua cuốn này tôi thấy đặc điểm là cuối mỗi chương có phần phê bình nhìn lại (rétrospection) đề tài đã trình bày. Dwyer có khuynh hướng xét lại (révisionisme).Tuy nhiên cuối năm 2002, khi khởi sự viết cuốn Ðịnh bệnh chia rẽ kitô giáó, tôi vẫn không tham khảo gì nơi tác giả đó, vì đề tài tôi lo trình bày chưa đòi bàn đến Công Ðồng Trentô. Chỉ say mê chạy theo sức mới mẻ của một ánh sáng độc đáo từ kinh nghiệm bốn mươi năm sống mạc khải Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu.
* Năm 2007, tôi đọc được mấy tác gỉa phê phán lại Công Ðồng Trentô. Năm 2008 này tôi muốn đẩy xa việc nhận định & phê bình Công Ðồng Trentô. Theo tôi Công Ðồng này mắc nhiều điều tiêu cực, không đóng được vai trò sửa sai thích đáng, đàng khác không dựng được cột mốÔc chiến lược cho sự phát triển vận mệnh Giáo hội từ thế kỷ XVI trở đi. Cần đọc thêm thật nhiều tác giả giáo sử. Nên đọc thật kỹ tác giả Dwyer để phê phán lại nhiều ý kiến rấÔt táo bạo của Dwyer về Công đồng Trentô.
Tôi đã phải sao chụp nhiều trang của Dwyer và nhờ vài người bạn cùng đọc và phê bình lại chính các nhận định của Dwyer với hy vọng tôi sẽ tránh được những sai lạc Dwyer có thể mắc phải khi đứng vào thế xét lại giáo sử (révisionisme). Việc đánh giá lại Công Ðồng Trentô là cần thiết để thấy hai điều như vừa trình bày trên đây.
Phải nói rằng Công Ðồng Trentô chưa làm được nhiệm vụ mở ra cho Hội thánh Ðức Kitô đúng thời điểm một kỷ nguyên thần học mới về sống đời thần bí.
(13.07.2008)
Công Ðồng Trentô có trách nhiệm dựng lên cột mốc phát triển vận mệnh thần bí cho Hội thánh Chúa Kitô thời hiện đại không?
Xét qua lịch trình xuất hiện các công đồng chung, theo nhu cầu của Hội thánh vào thế kỷ XVI, Công Ðồng Trentô có trách nhiệm dựng lên cột mốc phát triển Vận Mệnh thần bí Hội thánh sang kỷ nguyên Sống Ðạo không?
Ðâu là những dấu chỉ thời đại đòi hỏi Công Ðồng có trách nhiệm ấy cho thời đại mới? Một kỷ nguyên thần học hậu kinh viện, kỷ nguyên thần học về sống đạo.
Hai câu hỏi lớn trên đây chỉ là hệ luận rút ra từ việc Công Ðồng Trentô chưa đóng được đúng vị trí lịch sử và sự nghiệp xứng đáng đóng vai trò bản lề vận mệnh Hội thánh Ðức Kitô trong dòng lịch sử. (8.2008)
* Ðịnh luật giáo sử Bônifaxiô đã giúp tôi nhận định lại cuộc khủng hoảng Wittenberg và sự nghiệp Công Ðồng Trentô ra sao?
Từ năm 1959, định luật giáo sử đã soi sáng tôi nhận định & đánh giá lại lịch sử Giáo hội Kitô một cách thâm thúy và sâu sắc, cho dù tôi chưa chính thức xuất bản riêng một cuốn giáo sử dài trình bày định luật đó. Nó là định luật khung, giải thích bao trùm cả dòng thời gian của lịch sử Hội thánh đã trải qua trên hai nghìn năm.
. . .
(Oct.23.08)
• Tuyên ngôn Augsbourg August 31. 1999,
Tuyên ngôn đề cập đến việc “thông dịch (interpret) một viễn ảnh mới về ơn công chính hoá”? Thông dịch là giải thích một cái gì không dễ hiểu, làm sáng tỏ hoặc chỉ ra dụng ý của một nhân vật, sáng tác, vv . . .). Tác gỉa Viễn Việt trình bày linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu lấy chất liệu là các cột mốc thần bí từ thư Rôma. Ðó là một cách thông dịch từ ơn công chính hoá (Rom 1, 17) ra một linh đạo tu đức thần bí cả cho tu đức cá nhân người kitô. Nương theo linh đạo ấy, vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể cũng được thể hiện chung một đường hướng.
- Thời Công Ðồng Trentô, người ta chỉ coi ơn công chính hóa là tín điều và lo xoay xở nhằm đưa ra định nghĩa về ơn công chính hóa. Tranh cãi, xâu xé nhau hơn bốn thế kỷ, nay Tuyên ngôn chung giữa Lutheran và Công giáo kết thúc thiên kỷ thứ nhì Kitô mới rút kinh nghiệm là cần thông dịch ra cái nhìn mới về ơn công chính hóa (interpret the new view of the justification). Kinh nghiệm thật đắt gía! Ðâu ngờ rằng công việc phê phán Tin lành, Công Ðồng Trentô chưa làm tốt hơn,
chưa cứu chữa Phong trào Tin lành đúng căn bệnh và chữa lành con bệnh!
* Ông Pêlagiô đã quan niệm công chính hóa thế nào? Ông Luther có cái nhìn khác thế nào giữa bè Pêlagiô & bè Á-Pêlagiô thời thượng cổ so với hiện tình thế kỷ XVI? Dù có giáo lý nhìn về ơn công chính hóa khác hẳn quan niệm thời phái Pêlagiô & Á-Pêlagiô, ông Luther không được nhận diện đúng. Nói cách khác, Công Ðồng Trentô phân biệt ra sao giữa quan niệm thời thượng cổ về ơn cứu độ và giáo lý cứu độ thời ông Luther lúc chấm dứt thời trung cổ không? Hay là Trentô chẳng nhận ra sự khác biệt nào nên mới vội vàng bỏ hai bè rối kia và nhảy mau qua sang ông Luther? Không nhận ra tâm thức xã hội châu Âu đang đòi một cuộc thoát xác văn hóa? Trentô không nhận định ra Phong trào Sùng Mộ Tân thời (Devotio Moderna) đã khởi đầu đòi hỏi một cuộc thoát xác thần học (x. Noi Gương Chúa Giêsu q.I, chương 1, c. 3; chương 3, c. 2) và đòi Sống Ðạo khác với viễn tượng thần học kinh viện cổ điển?
Lưu Ý. Mấy chục trang trên đây ghi ra cốt là lấy nốt, và tùy cảm hứng nên không khỏi có sự trùng lấp và lộn xộn về ngày tháng ghi kèm.
*
* * * * * *
NhaC NHO
1. Hon sau chuc trang tren day chua trích nguyen van cua o. Luther va cua Cong Dong Trento.
Nên mua cuốn Luther của Heiko A. Oberma, một cuốn biography về Luther cho thời chúng ta do các giới hữu trách về ông Luther.
2. Nhuoc Diem thu Nhi la con tua qua nhieu theo loi Phe Binh cua cac sU gia hon la cua chinh VieN Viet. (21 Sept. 2008)
3. Phai trai qua kinh nghiem ban than voi nhung bac than bi nao moi mong ly giai duoc cuoc khung hoang Giao hoi kito hoi the ky XVI? Ðổ vỡ nơi khâu chuyển biến nào? (16 Nov.2008)
Co phai dat ten cho cuoc khung hoang do khong ?
***
Ông Martin Luther
&
Công Ðồng Trentô
Xét lại
Tác phẩm gồm ba phần:
I. về ông Martin Luther
II. về Công Ðồng Trentô
III. Kết luận
* Mc Brien quan niệm thế nào về nội dung khoa giáo hội học?
- Công Ðồng Vaticanô II quan niệm Giáo hội học là khoa bàn về “bản tiÔnh và sứ mạng” của Hội thánh (x. Hc Giáo hội, 1). Theo đó, Mc Brien kể ra 10 nguyên tắc (Catholicism, trang 683-686). Cách nhìn của Công Ðồng Vaticanô II về giáo hội học xuất phát từ quan điểm kinh viện và tôn trọng giới phẩm trật. Vì thế, Mc Brien không có quan niệm gì rộng rãi hơn đường hướng của Công Ðồng.
Hồng y J.Ratzinger nghiên cứu về sự hiểu biết về Hội thánh của thánh giáo phụ Augustinô thế kỷ thứ V. Giáo phụ này có nét nhân bản dễ gây gợi ý bất chợt cho mọi người. Có thể lấy đó làm mốc và làm đầu mối cho việc khai triển một xu thế triết lý “nhân bản” cho thời đại ngày nay không?
Giáo hội học sẽ cần có quan niệm mới và với nội dung phong phú thế nào hơn hiện tình ngày nay? Chắc vậy, Hội thánh lữ hành còn phải phát triển thành toàn vận mệnh của mình (Eph 4, 13) gióng theo sự viên thành của Ðức Kitô.
Phần tôi, tôi muốn quan niệm giáo hội học gồm cả phần nội dung mới mẻ về bản chất hiện sinh nữa, giống như một khoa xã hội học của xã hội loài người. Cuốn Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu trình bày sự phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh. Ðó là cung cấp một sự hiểu biết về đời sống thiêng liêng mang tính cộng đồng của Hội thánh.Thêm nữa cũng cần cho Giáo hội học cả nội dung phần ứng xử trong Giáo hội, cách riêng giữa Giáo hội trung ương và các giáo hội địa phương. (Từ đó sẽ điều chỉnh lại mối tương quan giữa Chính thống giáo với Giáo hội Rôma, giữa Giáo hội Rôma với các giáo hội Tin lành). Công Ðồng Vaticanô II mở ra phương mới này với việc thành lập các Hội đồng giám mục địa phương cho từng miền có chung nếp sống văn hóa riêng biệt (Sắc lệnh về nhiệm vụ các giám mục, số 37 và 38). Ðã thế, giáo hội học sau này còn phải mở ra viễn ảnh có nhiều kỷ nguyên thần học cho cuộc đời của Hội thánh-Nhiệm thể. Nội dung ấy sẽ được đề cập đến, khi giáo hội học có thêm phần nội dung mới dạy về cuộc hiện sinh của Giáo hội lưu đày. (24 Sept.08)
* Cần đi các thư viện & nhà sách thêm nhiều lần, trưng dẫn nhiều chứng từ nguyên văn của ông Luther cùng các văn kiện Công Ðồng Trentô rồi mới nên in thử dăm bảy chục trang nhật ký trên đây được. (28.9.08)
*Lũ lụt Wittenberg?
Người Ai cập, người Việt Nam ứng xử thế nào trước các cơn đại lũ lụt? Lũ lụt do sông Nil, do sông Hồng và sông Cửu Long?
Theo qui luật vật lý, đại lũ lụt không sao tránh khỏi, nó gây tai hại về nhiều mặt, nhưng lũ lutỳ cũng đem lại nhiều lợi ích cho con người. Lũ lụt Wittenberg cũng có những nguyên nhân, và các ảnh hưởng tốt xấu cho Hội thánh, tương tự thế. Con người đã ứng phó ra sao với nạn đại bão lụt. Ðắp đê ngăn lũ lụt Sông Hồng là một cách hay hơn cảnh để mặc nước lũ Cửu Long lan tràn chăng? Ðại lũ lụt Wittenberg xảy ra theo qui luật, không sao tránh khỏi. Trước đại lũ lụt Wittenberg, Công Ðồng Trentô mới đắp đê chống lụt chứ chưa có phương pháp lợi dụng được lũ lụt! (11 Oct.2008)
* Tại sao ở Việt nam hiện nay xảy ra một cuộc phá sản về giáo dục?
Thưa vì thiếu một một lý thuyết nhân bản chính danh. Chủ thuyết Cộng sản dạy một nhân sinh quan sai lạc, phi nhân bản, phủ nhận tự do con người, làm mất bản sắc tâm lý cá nhân. Nhà nước VN có tổ chức các trường sở đủ mọi cấp, nhưng xảy ra nạn phá sản giáo dục, không đào tạo được con người chính trực. Nhà văn Nguyễn Khải phàn nàn về một chế độ xã hội chủ nghĩa, “trong đó người công dân không có quyền sống thật, nhà văn cũng không được quyền bộc bạch tâm sự riêng tư của mình trên trang giấy là một xã hội không có chân móng”. Nói theo khoa tâm lý học, như thế người công dân không có căn cước tâm lý riêng tư.
Sau sáu thế kỷ mò mẫm, nền nhân bản còn gây cảnh lộn xộn cho đời sống con người. Nó chưa có một định nghĩa đạt mức chính danh.Cuộc sống còn đòi nhiều khám phá mới. Chế độ Mác-xít chưa có một quan niệm nhân bản chính danh. Nó đã gây bao tội ác cho loài người! (5 Nov. 08)
(30 Oct. 2008)
Khi nào nền nhân bản mới xứng đáng gọi là nền nhân bản chính danh? Hiện nay nền nhân bản không cócác định luật phát triển nền văn hóa nhân bản dựa trên căn bản luận lý học hiện sinh, thì nền nhân bản với hiện trạng đang có sẽ không đạt tới tên xứng danh của nó được.Phải nhờ có nội dung một nhóm các định luật phát triển đời sống nhân bản dựa trên căn bản luận lý học hiện sinh, nền nhân bản mới xứng đáng với tên gọi là nền nhân bản chính danh. Và lúc đó nó có khả năng đem lại một nền giáo dục nhân bản thứ nhân bản đích thực.
Óc luận lý học hiện sinh phát sinh nhờ việc khám phá ra các nền luận lý học cơ bản và kết hợp thành định luật Vald.(?) ngay từ sau khi khám phá ra định luật Bản ngã tâm lý cuối thập niên 50 thế kỷ XX, ở Long Phước Thôn.
Mặt khác nhờ căn bản luận lý học hiện sinh làm nền, học thuyết bản tướng nhân loại cũng mới có tính nhân bản chính danh. Nhờ thế, định luật bản tướng nhân loại cũng mới có khả năng đem lại nền chính trị có giá trị nhân bản chính danh. Từ bấy lâu trước, khoa tâm lý học chưa xác định được đâu là thứ nhân bản chính danh, thì nền chính trị và xã hội học cũng thiếu khả năng có tính nhân bản chính danh! Ðó là lý do trả lời tại sao người quốc gia Việt Nam ở hải ngoại nay chưa thực hiện nổi một mô thức giáo dục theo nền nhân bản chính danh để làm gương cho trong nước noi theo? (30 Oct.2008)
(Cấu trúc chiêm tinh học và tính khí (tempérament) kép của tôi biểu hiện là một người ưa kỷ luật và trật tự, không chuộng sự dễ tính (easygoing). Trạng thái sinh tâm lý này nặng đầu óc luận lý học, tác động quyết định cho việc theo đuổi công trình suy tư triết học nhân bản và thần học Hiện hữu cả nửa thế kỷ nay).
- Khi có những định luật phát triển vận mệnh thần bí cá nhân tín hữu kitô, việc đào tạo tu đức có cơ may được đổi mới ra sao?Khi có bộ định luật phát triển vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh, việc đào tạo thần học có cơ may được canh tân ra sao? Thử nêu ra những hệ quả từ các định luật thần bí đó.
(22 Oct. 2008)
Thiên Chúa Ba Ngôi ban truyền sứ điệp mạc khải của Người cho loài người nhằm biến đổi loài người trở nên loài thần thiêng hầu kết hợp nên một với Người trong niềm hạnh phúc đời đời (Ga 20, 31).
Vậy kiếp sống trần thế này cốt nhằm đổi đời con người thành dân thần thiêng.
Việc tiếp nhận mạc khải chỉ là phần đầu. Mục đích cốt yếu là nhờ mạc khải soi dẫn làm đổi đời người tín hữu trở nên những kitô khác. Người tín hữu có một vận mệnh phải hoàn thành. Mặt khác Hội thánh cũng có một vận mệnh thần bí, cộng đồng phải lo sống hoàn thành (Eph.3, 13) trên dương thế này.
Theo qui trình phát triển ấy, vận mệnh thần bí của Hội thánh ngày nay đang ở tuần tuổi phát triển nào?
Cuộc khủng hoảng Wittenberg gây nên những trở ngại nào cho người tín hữu kitô và cho Hội thánh Kitô đổi đời?
Cuộc khủng hoảng Wittenberg như thế đòi minh định nhiều điều mới mẻ nào (cho nội dung khoa giáo hội học)?
Xem lại cấu trúc Giáo hội cần canh cải gì ngoài mô thức cơ chế phẩm trật, có phải thêm thêm mô thức Nhiệm thể Chúa Giêsu không?
Vận mệnh Hội thánh chỉ có một kỷ nguyên thần học kinh viện độc tôn sao, hay còn có những kỷ nguyên thần học khác nữa? Có đòi Hội thánh qua dòng lịch sử đổi đời sang là Hội thánh theo tinh thần Nhiệm thể Chúa Giêsu không?
Có phải đưa ra quan niệm mới về giáo hội học với định nghĩa và nội dung về bản chất hiện sinh của Hội thánh không?
• Công Ðồng Trentô xem mạc khải về ơn công chính hóa là tín
điều. Cách nhìn ơn công chính hóa như thế không đúng với tên gọi nguyên thủy, với bản chất và nội dung được trình bày xuyên suốt trong thư Rôma. Do đó, cách giải đáp ơn công chính hóa nơi thư Rôma không đáp ứng được nhu cầu sống đạo, nhu cầu cải cách vận mệnh thần bí của Hội thánh từ thế kỷ XVI trở đi.
• Cách nhìn ơn công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo mới chính
xác và phù hợp với nội dung thư gửi giáo hội Rôma. Nhờ thế mới dễ đem lại giải pháp canh tân vận mệnh thần bí, cộng đồng của Hội thánh-Nhiệm thể Chúa Giêsu. Không nhìn nhận ơn công chính hóa là mầu nhiệm sống đạo nên gây ra nạn suy thoái & khủng hoảng sống đạo đã kéo dài năm thế kỷ nay.
* Công thức ngày 04 Nov. 2008: công thức Bôrrômêô)
Thế giới ngày nay bước vào kỷ nguyên văn hóa nhân bản, con người có nhu cầu sống có tính nhân bản khác trước kia.
Theo hậu cảnh văn hóa nhân bản đó,
Con người kitô cũng có nhu cầu đòi sống có căn tính (identité) kitô chính danh hơn trước.
(Một Giáo hội tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi qua Ðức Giêsu Kitô, được tổ chức có cơ chế phẩm trật)
Ðồng thời Hội thánh Ðức Kitô cũng có nhu cầu sống với căn tính kitô trưởng thành hơn trước.
(Một Giáo hội với cơ chế phẩm trật sống trở nên là Giáo hội Thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô. Khi ấy Giáo hội sẽ có căn cước kitô trưởng thành hơn)
(lúc 040759G11/2008)
Phương trình phát triển Vận mệnh Hội thánh Ðức Kitô
• Căn tính nhân bản là gì? Ðâu là cốt lõi nhân bản?
Thưa: dựa trên qui trình phát triển các phương pháp luận lý học căn bản.
• Căn tính kitô là gì? Ðâu là cốt lõi căn tính kitô?
a/ Cho người tín hữu kitô
b/ Cho Hội thánh Ðức Kitô?
c/ Căn tính đời sống kitô của Hội thánh dựa trên căn bản nào? Phải chăng dựa trên Lịch Trình Tuyên Tín Nagiarét?
• Mô thức cơ chế phẩm trật là mô thức đầu tiên xây dựng căn tính Hội thánh Ðức Kitô. Phải chăng mô thức Nhiệm thể Chúa Kitô là mô thức thứ nhì xây dựng căn tính Hội thánh chăng?
*
* Công thức GA 20, 31: Tin và sống đời đời
* * *
* Nhờ đâu mà người tín hữu kitô tin được ngài Giêsu Nagiarét là Ðức Kitô.
Nhờ đâu mà người tín hữu Kitô làm được việc lành phúc đức thành sự?
* Nhờ đâu mà cộng đồng các tín hữu Kitô tin được ngài Giêsu Nagiarét là Ðức Kitô mà trở thành Hội thánh Kitô.
Nhờ đâu mà cộng đồng kitô sống thành Hội thánh với khả năng làm các việc lành phúc đức thành sự, và “phát triển nên người thành toàn, đạt đến tầm vóc xứng với sự viên mãn của Ðức Kitô” (Eph 4, 13)
Sống đạo đòi đặt lại vấn đề từ nền tảng, chứ không đơn giản tin đạo & theo đạo như lúc ban đầu nữa.
Sống đạo đòi hỏi một cuộc đổi đời nứt da vỡ thịt. (10 Nov.08)
• 14 năm Biết Ðền tạ Chúa Thánh Linh (1994-2008)
(nhật ký nhân chuyến đi Ðồng Xoài, năm 1994 với lm Hà Diên Tố)
* 11 năm biết lưu ý chút giáo lý về sức tác động của Chúa Thánh Linh (1948-1959). Nguyên lý ấy như sau: trung thành với ơn soi động của Chúa Thánh Linh là nguyên tắc nên thánh.
* 35 năm cảm nghiệm về vai trò thánh hóa của Chúa Thánh Linh (1959-1994).
*
*** Niên khóa 1953-54 ở Nhà chung Thái Bình, tôi đã nhận xét: cuốn “Noi Gương Chúa Giêsu” chỉ thu góp các câu châm ngôn tu đức rời rạc (raparium), chứ không chỉ ra một linh đạo với những bước phát triển tu đức mạch lạc!
Hai tu đoàn theo Gerard Groote đòi tu đức soi vào nội tâm, nhưng không phác họa được linh đạo phát triển nội tâm ấy diễn tiến ra các tuổi đời thần bí cụ thể thế nào! Trước đó hai thế kỷ, thánh tổ phụ Bruno (tk 12) ẩn sĩ chuộng sự cô tịch (solitude) nhưng ngài cũng đã không sao tìm ra linh đạo phát triển đời sống nội tâm.
** * Tuần Thánh năm 1963 tại tu viện Châu Sơn, Ðơn Dương, dự mấy buôỉ kinh đêm giữa rừng vắng u tịch, tôi cũng khá ham mê lối tu phụng vụ Biển Ðức. Mình từng được cảm nghiệm về ơn tiền định bản thân và cảm nghiệm về “ơn tiền định các dân tộc trong Thiên Chúa Ba Ngôi”. Mình còn phải dấn thân vào trần gian để cùng nhịp bước đưa các khối dân tộc (Mt 20) vào hưởng ơn tiền định đời đời chứ, sao mà cứ một bề lo kinh nguyện như thế được!
Năm 1962 tháng 11, tôi đã soạn thảo Dự thảo Bài lễ về Dâng kính Ðấng Tiền định và cả Dự thảo Bài lễ tôn vinh Nhiệm thể Chúa Giêsu. Như thế đã đi vượt cả tuổi đời cảm nghiệm về ơn tiền định đời đời trong Chúa Ba Ngôi.
* Cuộc khủng hoảng vĩ đại của Hội thánh nơi phần thứ nhì sách Khải Huyền (chương 4-19) là cuộc bắt đạo dữ dằn do nhà cầm quyền Rôma thực hiện. Cuộc khủng hoảng xảy ra với nguyên nhân ngoại lai tác động vào Hội thánh. Cuộc khủng hoảng Wittenberg thế kỷ XVI là khủng hoảng nội tâm Hội thánh, đời sống đạo của chính bản thân Hội thánh. Vì thế, giải pháp cứu chữa hẳn không thể giống nhau giữa hai cuộc khủng hoảng.
(lúc 230412G11/2008)
* Một bạn cựu chủng sinh nhắc khéo tôi rằng: Công Ðồng Trentô với bao nhiêu nghị phụ họp 18 năm trời, nay chỉ trong vài năm anh đánh giá lại sự nghiệp Công đồng lớn lao này được sao?
(21 Nov. 08, lễ Mẹ Dâng mình)
* Nhờ sống đời sống thần bí theo Linh đạo Nhiệm thể Chúa Giêsu, tôi có kinh nghiệm sống theo hai mô thức giáo hội cơ chế phẩm trật và giáo HộiốNhiệm thể Chúa Giêsu. Do đó tôi khám phá ra vận mệnh thần bí Hội thánh-Nhiệm thể. Tôi có khả năng nêu lên bí quyết giải thích cuộc khủng hoảng chia rẽ giữa Phong trào Tin lành với Giáo hội công giáo Rôma, đồng thời đề ra giải pháp cho đại kết. Xin muôn đời cảm tạ Chúa Thánh Linh.
* Trong chuỗi các nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng về sống đạo thì đâu mới thực là nguyên nhân đầu mối? Muốn cải cách mà đầu tiên lo chấn chỉnh về việc ban & hưởng ân xá thì chưa phải trúng đầu mối của công trình cải cách đâu. Ðó là phản ứng trực tiếp, thô thiển. Việc ban & hưởng ân xá chỉ là hậu quả của một thái độ căn bản khác. thái độ chiếm hữu (giữ đạo).
Hãy xem khủng hoảng tài chánh với với suy trầm kinh tế hiện thời tại Mỹ khác nhau xa, cái nào là nguyên nhân, cái nào là hậu quả? Và ngược lại. Ở đây nghe ra có hơi hướng theo triết lý hiện hữu (existentialiste) sao đó! (11 Dec.2008)
* Cần trích thêm :
- City of God. Viễn kiến thần học về lịch sử
- Foundations of Christian Faith của K. Rahner
- Sách Ða-niên
- Ðệ nhị luật
- Trình thuật của Gioan
-
-
-
******************************************
Thẩm định cuộc khủng hoảng Wittenberg
(07.Dec.2008)
Thế đối kháng đối trọng lại mô thức thần học kinh viện.
Thế đối kháng đối trọng lại định hướng văn hóa siêu hình học cổ Hy-La.
Dự phóng mô thức mới với nội dung ra sao?
Vì là phản ứng lại tiền thân với kiếp trước, sự thể đòi có mô thức mới về thần học, về tổ chức Hội thánh và về cả mô thức văn hóa như là hậu cảnh cho thần học mới.
Có phải sử dụng đến phạm trù về triết học Hiện hữu (existentialisme) không? Cần phân biệt chiếm hữu (avoir) với hiện hữu (être) chăng? Chiếm hữu ân xá với thăng tiến hiện hữu kitô hữu, tức thăng tiến bản ngã (personnalité) kitô hữu.