Hỏi thế gian tình là vật gì?

(Nhân ngày 8.3, suy gẫm về đức khiết tịnh của Linh Mục)
Linhmuc copy.jpg

Xem phim kiếm hiệp “Thần Điêu Đại Hiệp”, có lẽ ai cũng nhớ mấy câu thơ mà Lý Mạc Sầu thường ngâm nga.

Hỏi thế gian tình là vật gì?
Mà khiến sinh tử tương hứa.
Trời Nam đất Bắc song phi nhạn.
Cổ thụ mấy mùa hàn sương.
Hoan lạc thú, biệt ly sầu.
Nỗi khổ chứa đầy tình tương tư.

Sau một trận tử chiến, những câu thơ ấy âm vang não nùng giữa núi cao rừng thẳm. Người ngâm nga ai oán là nữ sát thủ Lý Mạc Sầu. Đó là bài thơ nhà văn Kim Dung viết tặng mối tình Dương Qua và Tiểu Long Nữ. Qua Lý Mạc Sầu, tác giả gởi thông điệp xót xa ấy cho thế gian.
Hỏi thế gian tình là vật gì?

Xưa nay người ta thường hỏi tình là gì? Không ai hỏi tình là vật gì. Chữ “vật” khiến ta liên tưởng đến một món nợ phải trả, một thực thể hiện hữu trấn giữ ngạo mạn giữa tâm trí, một biểu tượng quyền lực chi phối, quyết định vận mạng đôi lứa và có lẽ còn là một linh vật kiểu như linga hay yoni trong văn hóa Chăm đầy ấn tượng. “Vật” cũng có thể là một cái gì mong manh như sương khói, ngắn ngủi như chiếc lá khô, chóng tan như bọt bèo, bồng bềnh như áng mây bay.

“Tình yêu là cái bóng của mình, khi ta đuổi theo thì nó chạy nhưng khi ta bỏ chạy thì nó đuổi theo… Tình yêu là con quái vật kỳ lạ: khi ta bỏ đói thì nó sống, khi cho nó ăn no thì nó chết.” Vì nó đầy nghịch lý như thế nên Lý Mạc Sầu vẫn cứ hỏi thế gian:Tình là vật gì, mà khiến sinh tử tương hứa?

Không ai biết nó là vật gì nên nó là tất cả: là một cơn mưa, một ánh nắng chiều, một giọt sương trên lá hay một giai điệu: Những ngày không có anh, biển bạc đầu thương nhớ. Những ngày không gặp gỡ, lòng thuyền đau rạn vỡ. Hôm qua lỡ chạm tay nhau, về nhà đó có bị đau không nào, riêng đây chẳng biết vì sao, chãm tay lẩn ấy đau vào tới tim. Làm sao cắt nghĩa được tình yêu, có nghĩa gì đâu một buổi chiều, nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…

Tình yêu vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, vừa khơi nguồn sức sống vừa gieo rắc cái chết. Tình yêu đem lại hạnh phúc nhưng cũng nhận chìm con người trong khổ đau. Tình yêu tạo ra văn học nghệ thuật nhưng cũng gieo rắc chiến tranh.

Không có cái gì đa dạng bằng tình yêu. Tình yêu là một thế giới Nhị Nguyên, tương phản cùng cực nhưng cũng dung hợp cùng cực. Nó là Thái Cực Đồ: bao gồm hai yếu tố âm và dương, trong âm có dương và trong dương có âm, tương tác, vận động và chuyển hóa thành vạn vật.

Ngày xưa người chiến binh ngoài mặt trận muốn gởi thư về nhà cũng phải mất cả tháng trời ngựa chạy hay nửa tuần trăng chim nhạn bay. Nay, ngồi trước máy vi tính, chỉ cần nhắp chuột vài lần là đã có thể gởi một bức thư kèm hình ảnh của mình cho người thân đang ở bên Mỹ bên Pháp trong vòng không tới ba mươi giây đồng hồ. Rõ ràng là lịch sử nhân loại có những bước tiến lớn.

Nhưng có một thứ mà từ hàng ngàn năm nay chẳng những không tiến mà còn bước lùi, không phát triển mà còn thoái hóa. Đó là TÌNH YÊU.

Ngày xưa khi yêu nhau người ta thề cùng sống chết, ví dụ như mối tình Trọng Thủy - Mỵ Châu. Khi Trọng Thủy chạy theo dấu lông ngỗng, thấy xác vợ mình nằm chết bên đường thì vô cùng đau xót, chàng an táng vợ rồi nhảy xuống cái giếng trong thành Cổ Loa mà tự tử. Bên Tây cũng có Roméo và Juliette yêu nhau mà không lấy được nhau, đành cùng chết trong chốn nhà mồ…

Một lá thư tình buộc dưới chân con chim nhạn hoàn toàn khác với một lá thư tình truyền qua mạng internet. Vì thế bản chất của tình yêu cũng đã khác. Tình yêu ngày xưa là cái gì mong manh như mây khói, nên nó lãng đãng, nó nhiều truyền thuyết và đầy chất huyền thoại. Tình yêu bây giờ là tốc độ, hưởng thụ và thực dụng. Các nhà thơ trẻ bây giờ chê, không làm thơ tình nữa. (theo nhà văn Đào Hiếu).

Tình yêu bây giờ là tốc độ, hưởng thụ và thực dụng. Là người giữa mọi người, Linh mục ngày nay có bị ảnh hưởng lối sống ấy không?

Linh mục “đựơc yêu” nhiều

Có nhiều thiếu nữ, phụ nữ yêu thực sự với cả con người, với tất cả chọn lựa. Họ có sắc đẹp, tài năng, tiền của. Họ không phải vì nghèo, vì dốt, vì xấu. Họ có nhiều đàn ông con trai theo đuổi, có nhiều lời cầu hôn. Nhưng họ lại nhắm vào linh mục trẻ. Họ sắn sàng đánh đổi mọi sự để có tình yêu linh mục. Ban đầu là cảm mến vì linh mục có tư cách, có nét gì đó đáng yêu. Rồi dần dần trở thành tình yêu đơn phương. Có những phụ nữ tìm đến linh mục để lấp đầy khoảng trống tâm hồn. Khoảng trống do thất bại trong đời sống gia đình, ly dị, ly thân, đổ vỡ…Có những thiếu nữ không muốn sống độc thân mà phải sống độc thân. Cô bé Meggi trong “những con chim ẩn mình chờ chết” mang nhiều khuôn mặt khác nhau muốn tìm đến linh mục để được yêu. Linh mục mở rộng lòng đón nhận trong tình yêu mục tử. Người phụ nữ dễ rơi vào ảo tưởng là đựơc linh mục yêu “cha làm lễ lúc nào cũng nhìn con”. Rồi họ đi khoe với người khác rằng mình đựơc cha yêu. Rồi ghen tuông với người khác. Linh mục thành vật tế thần. Phụ nữ đã có chồng thì càng rắc rối. Ôi bao chuyện xót xa đau buồn. Hỡi thế gian tình là gì?

Sống tỉnh thức

Những bài học tu đức căn bản, tôi học từ Chủng viện, giúp sống đời linh mục, xin mạo muội chia sẽ.

Không xao xuyến: Linh mục sống độc thân, không thuộc về ai, ai cũng có quyền tấn công. Tất cả không đáng ngại vì lòng mình không xao xuyến. Cái đáng ngại là khi lòng xao xuyến vấn vương.
Thực thi đức ái mục tử.

Sống kỷ luật: dứt khoát ngay từ khi thấy dấu hiệu từ phía bên kia và phía bản thân. Sự sa ngã không đến tức khắc mà tiệm tiến, nhân nhượng từ đầu sẽ sa lầy.

Tránh dịp tội: tránh gặp gỡ những nơi quá kín đáo, quá tối tăm.

Không ảo tưởng: thấy vài người theo đuổi thì nghĩ rằng mình tài năng, hấp dẫn.

Giải bày tâm tình cho một linh mục thánh thiện mà mình tín nhiệm.
Có ba hình thức sống độc thân:
- Giữ kỷ luật: thực chất là bù trừ. Lăn xả vào tranh chấp quyền hành nội bộ, làm ăn, làm chính trị.
- Cách giả hình: quan hệ bí mật, giấu kín mọi người.
- Đúng nghĩa: qua 2 chiều kích
+ Chiêm niệm gắn liền với đời sống thiêng.
+ Làm việc tông đồ: không phải giữ luật mà là hiến mình phục vụ anh chị em, tích cực dấn thân, nhiệt thành Phúc Âm.

 

Bước theo Đức Kitô Khiết Tịnh

a. Đức Giêsu, con người khiết tịnh:

Một trong những nét hấp dẫn của Đức Giêsu trong các sách Tin Mừng là con người khiết tịnh của Chúa. Người rất trong trắng, quân bình, khả ái. Đời sống độc thân của Đức Giêsu là dấu chỉ Tình Yêu lớn nhất. Trước hết, dựa vào Tin Mừng, chúng ta biết chắc chắn Đức Giêsu có kinh nghiệm về Tình Yêu lớn nhất là Tình Yêu của Chúa Cha : không có tình yêu nào lớn bằng, sâu thẳm bằng. Người được Chúa Cha yêu thương, và tình thương ấy vô bờ. Tình Yêu ấy làm cho Người sung sướng, hạnh phúc. Tình Yêu ấy đủ cho Người. Người không cần tình yêu nào khác bổ sung. Người không bao giờ cô đơn, vì có Chúa Cha hằng ở với Người (x. Ga 8,29; 16,32 ). Đức Giêsu đáp trả lại Tình Yêu của Chúa Cha cũng bằng Tình Yêu lớn nhất. Trên bình diện con người, Đức Giêsu là người thực hành giới răn thứ nhất trọn vẹn hơn cả. Người đặt Chúa Cha lên trên tất cả, Người dâng hiến tất cả cho Chúa Cha: trái tim, con người, cuộc sống. Đức Giêsu là một người hoàn toàn tự do, không bị chi phối bởi một tình cảm trần thế nào. Sự khiết tịnh nơi Đức Giêsu không là sự cằn cỗi hay thiếu nhựa sống. Sự cằn cỗi không là khiết tịnh, vì không là tình yêu. Khi nói tới khiết tịnh là nói tới yêu thương: tình yêu khiết tịnh. Nơi Đức Giêsu, khiết tịnh là yêu thương dạt dào, là trái tim nhạy cảm, tràn ngập yêu thương, đối với mọi người, đặc biệt đối người nghèo khổ. Khiết tịnh là tình yêu không bị trói buộc vào một đối tượng, mà là một tình yêu phổ quát, vô giới hạn. Nhưng đó không phải là một thứ tình yêu trừu tượng, không có thực. Đó chính là Tình Yêu vô hạn của Thiên Chúa trong lòng con người. Đó là Thánh Thần của Thiên Chúa trong trái tim của Đức Giêsu.

 

b. Thách đố cho đức khiết tịnh :

 

Thế giới hôm nay có khuynh hướng hưởng thụ. Lạc thú là loại của ăn trần thế mà nhiều người ham muốn. Thậm chí có người muốn coi nền văn hóa đương đại là một nền văn hóa hưởng lạc. Hiện nay, nhiều người trên thế giới muốn bỏ hết mọi ràng buộc luân lý về tính dục. Rất nhiều người chiều theo bản năng tính dục, và một số khá đông tôn sùng bản năng ấy. Khuynh hướng tự do luyến ái làm đổ vỡ biết bao nhiêu gia đình, làm hại biết bao nhiêu con người về mọi phương diện, thể lý, tâm lý, tinh thần. Bệnh Aids tràn lan khắp nơi, đặc biệt ở những nước nghèo như các nước Phi Châu, một số nước Á Châu trong đó có Việt Nam. Liệu nhân đức khiết tịnh của linh mục có giải đáp được gì cho vấn đề tính dục và tình cảm của con người thời đại hay không? Những linh mục sống Đức Khiết Tịnh có vui sống, có hạnh phúc, có triển nở trong cuộc sống làm người hay không? Họ có được sự quân bình cần thiết cho sự lành mạnh cả về thể xác lẫn tâm hồn không? Hay họ thường xuyên đau ốm, cáu gắt, không biết yêu thương, vì thiếu kinh nghiệm về tình yêu? Họ có ích lợi gì cho xã hội hay chỉ là những người ăn bám? Khi không sống giống như những con người khác, họ có hiểu gì về con người bình thường không? Sống khiết tịnh còn có ý nghĩa gì nữa không và liệu có thực hành được hay chỉ là một ảo tưởng gây tai hại, làm hỏng cuộc đời của nhiều người?

 

c. Giải đáp của đời sống thánh hiến :

 

- Chứng từ của đời thánh hiến: Chứng từ khiết tịnh của đời sống thánh hiến là loại chứng từ cần thiết cho thời đại chúng ta. Một đời sống khiết tịnh triển nở vui tươi là bằng chứng, là dấu chỉ của Tình Yêu Vô Hạn : Tình Yêu mạnh hơn sự chết, mạnh hơn bản năng, mạnh hơn tội ác. Đó là Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho con người, và Tình Yêu ấy ở trong lòng con người: “Lòng Mến mà Thiên Chúa đổ tràn tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần Người ban cho ta” ( Rm 5, 5 ). Sự khiết tịnh của linh mục làm chứng cho sức mạnh của Tình Yêu Thiên Chúa trong sự mỏng dòn của thân phận làm người. Mọi linh mục đều rất yếu đuối và không ai tự hào đứng vững. Nhưng với ơn Chúa, linh mục có thể làm điều mà đa số cho là không thể: yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn, đặt Tình Yêu Thiên Chúa trên mọi thứ tình yêu, yêu mến mọi người, mọi tạo vật với Tình Yêu và sự tự do của Thiên Chúa. Đức Khiết Tịnh còn giúp con người có những tương quan trong sáng với nhau. Con người có thể yêu thương nhau thực sự, không bị ràng buộc bởi yếu tố lợi nhuận, hay bản năng tính dục.

 

b- Sống đức khiết tịnh hôm nay: Ngày hôm nay, đời sống khiết tịnh của linh mục phải làm nổi bật một số nét cơ bản mới có sức thuyết phục, có ý nghĩa cho bản thân và tha nhân:

 

- Quân bằng về tâm lý và tình cảm: không cảm thấy thiếu thốn tình cảm, mất mát, cần bù trừ bằng cách này hay cách khác. - Có khả năng tự chủ: làm chủ được bản thân, không dễ xiêu lòng, mềm yếu về tình cảm, không dễ nghiêng chiều về những khoái cảm bên ngoài. - Trưởng thành tâm lý và thể lý : quảng đại bao dung, không khó tính khó nết. - Triển nở trong đời sống: dấu hiệu là óc sáng kiến, sự linh động; ù lì là dấu hiệu thiếu triển nở.

 

d. Linh mục sống Đức Khiết Tịnh theo gương Mẹ Maria.

Đức Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Mẹ là hoa trái tốt đẹp nhất của Chúa Thánh Thần Thần. Cả cuộc đời Đức Mẹ được đúc kết trong bài ca Magnifica “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng, Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới…” ( Lc 1, 46-48). Đức Mẹ nhìn nhận mình chỉ là nữ tỳ hèn mọn, được Chúa đoái thương nhìn đến.Với thân phận nữ tỳ hèn mọn, Đức Mẹ là một người nghèo, thanh khiết, chỉ biết phó thác vào Chúa, chỉ biết sẵn sàng thực hành bất cứ sự gì là thánh ý Chúa. Với thái độ trút bỏ tuyệt đối cái tôi của mình, Đức Mẹ tạ ơn Chúa vì được Chúa đoái thương nhìn đến, để thuộc về Chúa một cách trọn vẹn. Từ đó, Đức Mẹ sống trọn vẹn cuộc đời dâng hiến theo thánh ý Chúa.
Linh mục là “con cưng” của Đức Mẹ. Theo gương Mẹ hiền, linh mục sống Đức Khiết Tịnh để toả hương thánh thiện cho cuộc đời phục vụ yêu thương.

 

Kim Ngọc 8.3.2010
Lm Giuse Nguyễn Hữu An