Năm thánh 2010 - Suy về giáo xứ: Giếng nước đầu làng

Thanhduong copy.jpg

Sau thánh lễ Giao thừa năm ấy, tôi trở về nhà, đợi chờ chuông nhà thờ đổ, báo hiệu giây phút Giao thừa, giữa cái cũ và cái mới. Cuối cùng thì giây phút thiêng liêng theo tinh thần văn hóa Đông Phương đã điểm: Chuông nhà thờ Giáo xứ vang lên trong không gian thinh lặng, tôi cảm nghiệm thấy một nỗi xao xuyến trong lòng khi đứng trước bàn thờ Chúa trong nhà và trước di ảnh song thân của mình. Những giọt nước mắt hoài niệm bỗng dưng chảy dài xuống hai bên má già nua của tôi.

 

Thế rồi, hồi ức về một làng quê miền Bắc, vùng Châu thổ Sông Hồng thời niên thiếu của tôi,vụt xuất hiện như một cuốn hồi ký, được một bàn tay vô hình nào đó lần mở giúp tôi từng trang.Một ý tưởng cũng đến trong tâm trí tôi : Cái giếng nước và cây đa, lúc này nó bỗng dưng trở nên thân thiết một cách lạ lùng đối với tôi, nếu có thể nói, nó như hai “điểm hẹn” thiêng liêng vậy. Thế là tôi đã có một đề tài để “khai bút” ngay trong đêm Giao thừa năm đó.

 

Bây giờ, nhân dịp Năm Thánh 2010, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chọn làm Năm Thánh, kỷ niệm 50 năm Tòa thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, đồng thời mở Đại Hội Giáo Dân. Ngoài ra, Năm Thánh Linh Mục mới đi được nửa đường, nên thiết nghĩ, với tư cách một giáo dân bình thường và nhất là trên bảy mươi năm làm Ki-tô hữu, gắn bó chặt chẽ và tha thiết với Linh mục, với Giáo hữu và với Giáo xứ, chúng tôi thấy cũng rất cần phải tích cực đáp ứng lời kêu gọi của hàng giáo phẩm Việt Nam hướng về năm thánh này, bằng cầu nguyện và đóng góp ý kiến về các vấn đề chung quanh đời sống hiện nay của người Công giáo Việt Nam.Không biết ý tưởng này có đúng 100% với ý tưởng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam qua Thư chung cũng như qua Lời chủ chăn gửi cho dân Chúa về việc mở Năm Thánh này của Tổng giáo phận Tp. HCM.? Dù sao chúng tôi không dám đề cập tới những vấn đề ngoài tầm tay của mình, như Hiệp nhất, Mầu nhiệm , Sứ vụ loan báo Tin Mừng v.v…, mà chỉ nói lên một hình ảnh, có thể lấy đó làm biểu tượng cho một thực thể khác, sống động hơn, thiêng liêng hơn, cao cả hơn. Đồng thời nó cũng là một nơi giúp cho người tín hữu Ki-tô sống thánh thiện, thực hiện bác ái và hiệp nhất với các thành phần dân Chúa ở nơi đó để nó lan tỏa ra ngoài xã hội. Nơi đó, chính là GIÁO XỨ.

Nhìn vào giáo xứ, chúng tôi thấy chưa bao giờ nơi đây đích thực là nhà Nazareth, chưa bao giờ như thể một giếng nước đầu làng ,một hình ảnh được ĐHY Phạm Minh Mẫn ví von, giáo xứ cũng phải trở nên như vậy,trong một thánh lễ tại Đại chủng viện thánh Giuse Sài-Gòn, ngày 18-5-2003 với sự hiện diện của hơn 1000 giáo dân, ngày đó họ đang phục vụ trong các Hội đồng mục vụ giáo xứ trong toàn Giáo phận ! Cho nên, chúng tôi thấy nên viết về giếng nước theo hồi ức của chúng tôi., để xem cái giếng nước ở đầu làng đã mang lại những lợi ích gì cho người dân nơi đó, mà Hồng y Phạm Minh Mẫn mượn nó khi suy nghĩ về giáo xứ. Ngài nói với các thành phần trong các Hội đồng Mục vụ giáo xứ, có lẽ không ngoài mục đích là họ phải làm sao để giáo xứ trở nên cái giếng nước đầu làng. Muốn được như vậy, ngoài giáo dân nói chung, còn một vị rất quan trọng ở đó, một tác nhân với sứ vụ giúp mọi người nên thánh. Đó là Linh Mục. Ngài và Giáo xứ không thể biệt lập, ngoại trừ một số ngoại lệ.

Vì vậy, Năm Thánh Linh Mục trên toàn Giáo Hội và Năm Thánh 2010 riêng vói Giáo Hội Việt Nam mà nói về Giáo xứ, là một dịp, tuy ở đây không trực tiếp nói đến Linh mục , nhưng khi nói về Giáo xứ, ví như giếng nước đầu làng, cũng ẩn chứa sứ vụ của Linh mục ở đó.Vì một câu trong dân gian thường nói : Linh mục thánh thì giáo dân thánh, Linh mục tội lỗi thì giáo dân xa nhà thờ, xa giáo hội và có người xa Chúa nữa.

 

1- Giếng nước – Những lợi ích tự nhiên

 

Giếng nước đầu làng ở đất Bắc là một hình ảnh quá quen thuộc, đến nỗi nó trở nên gần gũi, thân thiết như của riêng mình, trải qua thế hệ này đến thế hệ khác mà không ai cần biết nó có tự bao giờ. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng, nó được hình thành từ lúc những người đầu tiên dừng bước trên mảnh đất mà sau này gọi là “làng” hay “thôn”. Vì nước là môt nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống của con người cũng như của mọi tạo vật khác.

Vì vậy, giếng nước chẳng những là nơi cung cấp nước cho người dân trong làng, mà còn là nơi gặp gỡ để trò chuyện, để trao đổi tâm tình mỗi khi người ta ra đó để kín nước mang về nhà. Nó cũng còn là nơi dừng chân của khách bộ hành đi đường xa mỏi mệt vì bên cạnh giếng là cây đa cổ thụ có bóng che mát cho khách. Khát nước, khách có thể xuống giếng vốc nước bằng hai bàn tay chụm lại, hoặc lấy nón lá múc nước mà uống thỏa thuê, an lành.

 

Hình ảnh này cho ta thấy, giếng nước là một không gian đáp ứng hai nhu cầu của con người : vừa là nơi gặp gỡ thân tình, vừa là nơi cung cấp nước uống cho nhu cầu thể chất và cũng còn là nơi dừng chân của khách bộ hành qua đường, đồng thời còn là nơi nhắc nhở người ta nhớ đến cội nguồn sâu thẳm và thiêng liêng.

 

2- Giáo xứ - Những lợi ích siêu nhiên

 

Nhu cầu thứ hai của con người là đời sống thiêng liêng. Khi một thôn hay làng được hình thành ở đâu thì việc thứ hai chắc chắn người ta phải nghĩ tới là dựng lên ngay trên mảnh đất mới ấy một cái đình, miếu, chùa hay nhà nguyện rồi nhà thờ, tùy theo tín ngưỡng hay tôn giáo của họ để đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người.

Hồi tưởng lại thời kỳ khai sinh Giáo hội tại Việt Nam, các Thừa sai mỗi khi thấy một cộng đoàn tín hữu phát triển đến một con số đáng kể, cần một nơi để cầu nguyện và dâng lễ, là các ngài bắt tay vào việc dựng lên một nhà nguyện. Cộng đoàn ấy phát triển hơn về số lượng tín hữu thì một ngôi nhà thờ được thay thế nhà nguyện kia. Rồi Giáo hội trải qua những thời kỳ cấm cách, kéo dài trên 200 năm, từ thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19, hàng trăm, hàng ngàn nhà thờ bị đốt cháy, hàng trăm ngàn giáo dân lớp bị tập trung vào một nơi rồi bị hỏa thiệu, lớp bị giết bằng gươm đao, khắp mọi miền từ Bắc vào Nam, nhà cầm quyền hồi đó còn lập ra những pháp trường để giết hại người có đạo ! Thế nhưng, khi tình hình tạm yên ổn, những nhà nguyện, nhà thờ tiếp tục được dựng lên lại.

Hơn 50 năm trước đây, đất nước xảy ra việc chia cắt, nhiều nhà nguyện rồi nhà thờ được dựng lên ở miền Nam do đồng bào di cư từ miền Bắc vào, là một dấu chứng của nhu cầu cho đời sống thiêng liêng trên vùng đất mới. Hiện tại cũng thế, các nhà nguyện, nhà thờ được dựng lên nơi các cộng đoàn giáo dân thuộc các dân tộc thiểu số, cũng như tại các vùng sâu vùng xa thuộc khu kinh tế mới, vì nhu cầu có nơi để cầu nguyện và dâng lễ.

 

Giáo xứ là Mái Nhà của Thiên Chúa, là môi trường giáo dục đức tin, bây giờ lại là cái giếng nước đầu làng. Ví von này thật mới và cũng thật là hay. Nó nhắc cho người ta nhớ đến những hình ảnh nhiều ấn tượng, thân thiết, tình cảm. Không một người dân nào trong thôn làng lại không cần đến cái giếng ấy. Cũng thế, không môt giáo dân nào lại không cần đến một cộng đoàn, một giáo xứ. Vì nếu hể là con người thì không thể sống mà không cần đến nước. Cũng vậy, hễ đã là Ki-tô hữu thì không thể tách biệt với giáo xứ, nơi đây là “giếng nước” mầu nhiệm chan chứa ân sủng từ nguồn mạch là Thiên Chúa. Nhưng để giáo xứ trở nên như giếng nước thực sự, một không gian thân tình, nhân bản, thì rõ ràng đấy là một lý tưởng mà mọi thành phần giáo dân ở đó đều phải có trách nhiệm xây dựng nên.Cái giếng nước đầu làng cho dù nó mang lại lợi ích cho con người một cách cụ thể và thiết thực, nhưng đấy là những lợi ích tự nhiên, những lợi ích về mặt nhân bản.Trái lại, giáo xứ là nơi quy tụ nhiều gia đình, nhiều thành phần trong xã hội, mà gia đình được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II nâng lên là “Hội thánh tại gia”. Vì thế, giáo xứ có một vai trò quan trọng, bao quát và ẩn khuất tinh thần mầu nhiệm, xét về các mặt xã hội, con người và tâm linh.

Những sinh hoạt tôn giáo trong giáo xứ, thiết nghĩ phải đưa đến những hoa trái cho bản thân người tín hữu đã đành, nó còn là hoa trái cho gia đình, cho xã hội và Giáo hội. Những bậc thánh nhân trong Giáo hội từ xưa đến nay, phải chăng là hoa trái nảy sinh từ giáo xứ, ở nơi này nơi khác, mà Giáo xứ bao gồm nhiều gia đình họp lại. Cho nên, đối với Giáo hội, giáo xứ không thể thiếu. Ở nơi nào nhà thờ bị đóng cửa vì không có người đến cầu nguyện và dâng lễ, nơi ấy giáo xứ không còn. Tuy nhiên, giáo xứ đôi khi bị người ngoài nhìn một cách sai lạc, thậm chí người ta còn có cảm tưởng nó là một pháo đài, một thành trì của những con người bảo thủ, cố chấp, hẹp hòi, ích kỷ, thì giáo xứ vẫn là một môi trường đức tin, một “ giếng nước”. chứa chan ân sủng cho những ai sống đức tin.

 

Giáo xứ phải là nơi an bình vì nơi đây có “Ngôi Nhà thờ phượng” , “Ngôi Nhà cầu nguyện”, một dấu chỉ về sự hiện diện thật sự của mầu nhiệm nhập thể, nơi người ta tìm thấy chính bản thân mình, tìm thấy an vui, tìm thấy bóng mát của tình huynh đệ, tìm được sự chở che do những giông tố của cuộc đời. Giáo xứ phải là một môi trường, một không gian thân tình và yêu thương, đoàn kết.

Còn “Ngôi Nhà thờ phượng” “Ngôi Nhà cầu nguyện”, nơi người tín hữu về đó hằng ngày để lãnh nhận thánh ân, rồi “ra đi”, chia sẻ và sống đời sống của những kẻ tin. Để rồi khi “trở về”, họ lại phải “phúc trình công tác” cho Chúa. Ngày hôm sau cũng lại diễn ra như vậy cho đến ngày tận cùng của nhân loai.

 

Trong sách “Hãy nâng tâm hồn lên”,tổng hợp từ các bài suy niệm của ĐTC Gioan-Phao-lô II, ngài có một suy niệm ngắn về Giáo xứ. Đoạn dưới đây là mượn lại của ngài .

“ Con người hiện đại thường mất hướng và đi lạc trong việc tìm kiếm tình bạn đích thực. Đời sống gia đình và xã hội chúng ta thường hoặc quá hời hợt hoặc bị nát vụn do những đổ vỡ. Môi trường làm việc thì thường rơi vào tình trạng phi văn hóa. Con người hôm nay khát khao cảm nghiệm một cuộc gặp gỡ đích thực với người khác, khát khao một tình bạn ấm áp đích thực.
Đấy không phải chính là ơn gọi của một giáo xứ đó sao ? Chúng ta không được mời gọi để trở thành một gia đình nồng ấm tình huynh đệ đó sao ? Chúng ta không phải là những anh chị em gắn bó với nhau trong gia đình của Thiên Chúa qua đời sống cộng đoàn của chúng ta đó sao ? Giáo xứ của bạn không chủ yếu là một cơ cấu, một khu vực địa lý hay một cơ sở nào đó. Tiên vàn giáo xứ là một cộng đoàn các tín hữu. Giáo Luật mới đã định nghĩa về giáo xứ như thế (GL 515, 1). Bổn phận của một giáo xứ hôm nay là: trở thành một cộng đoàn, khám phá lại căn tính của mình trong tư cách là một cộng đoàn. Chỉ một mình bạn thôi, chưa đủ để bạn làm Ki-tô hữu. Làm một Ki-tô hữu có nghĩa là tin và sống đức tin của mình cùng với những người khác. Vì tất cả chúng ta đều là những chi thể của Thân Mình Chúa Ki-tô.

Nhưng bằng cách nào một cộng đoàn được sinh ra ? Cần phải ghi nhận rằng không phải dễ dàng tạo lập một cộng đoàn.Tự bản chất, cộng đoàn có nghĩa là hiệp thông. Dù rằng trong tư cách là đại diện của giám mục, linh mục đóng một vai trò thiết yếu, nhưng chỉ với vai trò của linh mục mà thôi thì không đủ để cho mối hiệp thông lớn lên. Cần phải có sự dấn thân của mọi thành viên trong giáo xứ. Mỗi sự đóng góp của các thành viên đều hết sức quan trọng. Công Đồng Vatican II đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của cộng đoàn và vai trò nòng cốt của người giáo dân.(LG 32-33; AA 2-3), (Sdt, tr.340).

 

Cái giếng nước đầu làng , ngoài những lợi ích nhân bản và tự nhiên, nó còn nhắc nhở người ta “uống nước nhớ nguồn”. Nguồn ở đây vừa hiểu là nơi phát sinh mạch nước, tuôn chảy về giếng, vừa hướng về những bậc tiền nhân trong làng đã khơi giòng nước này cho các thế hệ hậu sinh. Còn giáo xứ, các Linh mục cai quản ở đây, làm sao để người tín hữu sống mầu nhiệm đức tin, giúp họ thăng tiến về nhân cách, cái nhân cách của những người tin, và nhất là mỗi ngày người ta thấy mình đã tiến triển trong tình huynh đệ với những kẻ tin khác, tiến triển trên đường kết hiệp với mầu nhiệm thánh giá và phục sinh.

 

KHẢI TRIỀU