
Có phải vì ngày nay những hình ảnh như “lúa chín đầy đồng”, “thợ gặt” đã lùi xa vào quá khứ, thuộc một phạm trù xa lạ, mà lời kêu gọi của Chúa Giêsu chẳng còn được mấy ai hiểu và đáp trả?
Quả thật, trong nhiều quốc gia phát triển cao, với chỉ năm đến bảy phần trăm dân chúng làm nghề nông, lại được công nghiệp hoá,hiện đại hoá tối đa, thì những khái niệm và hình ảnh ấy chẳng khác nào chuyện cổ tích. Nếu cho phép “cập nhật” hoặc “nâng cấp” Lời Chúa, để may ra người dân Âu Mỹ ngày nay có thể hiểu đoạn Tin Mừng hôm nay, thì phải nói :”hãy xin chủ ruộng mua sắm thêm nhiều máy gặt liên hợp nữa”. Ngay ở các nước đang phát triển, nơi nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất cao, thì thợ gặt cũng ngày càng hiếm hoi, đến mức trở thành “sao”. Sự thiếu hụt các linh mục - những thợ gặt Nước trời – ngày càng gay gắt và hơn bao giờ hết, linh mục trở thành “sao” và cũng từ đó,không ít vần đề liên quan đã được đề ra tưởng chừng như muốn giải đáp cho việc thiếu hụt nầy. Có thật như thế chăng hay chỉ là những suy nghĩ lệch lạc và ngụy biện. Trong bối cảnh những khủng hoảng về đời sống linh mục những ngày nầy, thiết tưởng nên nhìn gần hơn đời sống của những thợ gặt nầy.
“Sao” qúy, vì thường vượt trội về một chuyên môn nào đó. Ngày nay thường là ở các lãnh vực thể thao và nghệ thuật, như bóng đá, điện ảnh, ca nhạc, không kể những “sao” không có thực tài,nhưng lắm tiền và nhiều tham vọng, được công nghệ giải trí “lăng xê” quảng cáo. Loại ‘sao’ nầy mau rơi rụng và biến mất. Một tính chất chung thường thấy nơi các “sao” là “lắm tài nhiều tật”. Nhiều sao bóng đá xuất thân hàn vi và khi đã thành danh, đã vội hưởng thụ tối đa, để bù đắp một thời sống đói khổ rách rưới trong những khu nhà ổ chuột. Sa đoạ là điều thường nghe tới và không ít “sao” kết thúc cuộc đời quay lại trong cảnh bần cùng,nghiện ngập. Cáo chết ba năm, quay đầu về núi. Những ca sĩ,diễn viên kịch,’sao’ điện ảnh không đủ bản lãnh để đương đầu với cuộc sống xa hoa, trác táng, xô bồ, đã chìm sâu trong ma túy,men rượu mà họ cho là những trợ lực cần thiết, để giải toả áp lực công việc và trầm cảm không tránh khỏi. Không có gì mà không phải trả giá. Càng cao danh vọng, càng dày gian nan. Không ít linh mục đã rơi vào tình cảnh ấy.
Muốn hay không, linh mục là những ‘sao’, vừa do tính chất qúy hiếm,vừa do đặc thù công việc,mà không phải được mua hoặc mua được bằng tài năng, tiền bạc hay chạy chức chạy quyền. Chức linh mục luôn là một ẩn số đối với người ngoài Công giáo và vẫn là một bí ẩn đối với ngay cả các tín hữu Công giáo, gợi lên sự kính trọng, hiếu kỳ,thán phục. Bốn trăm ngàn (400.000) linh mục phụ trách hơn một tỷ mốt (1,1 tỷ) tín hữu, trong khi không được lơ là với hơn gấp năm lần còn lại ngoài Công giáo,nghĩa là mỗi linh mục phải xoay xở lo cho hơn 16.000 người, mà đâu phải cả 400.000 linh mục đều làm mục vụ. Con số thực tế chỉ là hai phần ba, vì bên cạnh các linh mục Dòng, còn rất nhiều vị làm công tác chuyên môn giảng dạy,văn phòng, công tác đặc biệt, hoặc đau ốm,hưu dưỡng. Nếu không có đặc sủng và ơn thánh dồi dào qua bí tích Thánh Thể và chuỗi mân côi,cũng như sự cộng tác từ các thành phần Dân Chúa trong các cộng đoàn, thì “sao linh mục” sẽ mau chóng bị chìm vì áp lực, vì mệt mỏi, khi toàn tâm toàn ý với công việc. Và đó là kẻ hở để cho “ba thù” len loỉ vào, cám dỗ và hạ gục linh mục.
Tuy vậy, nguyên tắc “qúy hồ tinh,bất qúy hồ đa” vẫn phải tuân giữ sát sao và không thể sơ sài chiếu lệ trong khâu tuyển chọn (đầu vào) và đào tạo huấn luyện (đầu ra). Không thể vì thiếu “thợ gặt”, mà chấp nhận những “biến tướng” để có số nhiều, như là truyền chức linh mục cho nữ giới, cho những người đã kết hôn (trừ các ngoại lệ được Toà Thánh xem xét phê chuẩn). Thật đau lòng khi đọc tin : Một cuộc thăm dò mới cho thấy trong 500 linh mục Áo được hỏi, 51% ủng hộ việc truyền chức linh mục cho nữ giới và một đa số áp đảo – 79% - các giáo sĩ ủng hộ việc mở rộng chức linh mục cho những người nam đã kết hôn (CWNews 29.06) và hơn 80% cho rằng Giáo Hội cần xét lại luật độc thân linh mục bó buộc. Điều nầy nhắc ta nhớ lại mới năm trước đây thôi, các linh mục Áo đã phản đối việc Đức Thánh Cha bổ nhiệm một giám mục phụ tá,mà họ cho là bảo thủ. Đáng buồn là không ít giám mục cũng hùa theo. Rõ ràng là phải đặt lại vấn đề huấn luyện đào tạo. Họ coi việc tự nguyện gia nhập chủng viện, làm ứng sinh chức linh mục, như bị bắt thi hành nghĩa vụ quân sự, để rồi không chỉ muốn đặt lại vấn đề sự lựa chọn của mình, mà cả đường lối và truyền thống của Giáo Hội, sao cho hợp tình hợp lý theo ý họ, không cần xét đến tương quan đối thần.
Hai bí tích Truyền Chức và Hôn Phối không hề loại trừ nhau, nhưng lại chỉ song hành và củng cố cho nhau mà thôi. Chức linh mục, đời sống một linh mục làm cho bí tích hôn nhân và đời sống các đôi hôn phối thêm ý nghĩa, giúp họ nhìn vào và vững vàng hơn sống khiết tịnh,chung thủy trong hôn nhân,cũng như ý thức mạnh mẽ hơn,rằng mục tiêu tối hậu của đời sống hôn nhân và gia đình là gia đình thiên quốc, để họ cố gắng nên thánh, xây dựng Giáo Hội, thánh hoá xã hội trần thế, nghĩa là cộng tác vào việc gặt hái đồng lúa Nước Trời. Ngược lại, bí tích hôn nhân - đời sống vợ chồng và gia đình – nơi sản sinh ơn gọi linh mục, là đối tượng để linh mục thể hiện tình yêu phục vụ theo gương Chúa Giêsu. Vì thế, đời sống độc thân tự nguyện không dính dáng gì đến chuyện thiếu hay thừa linh mục, mà gắn liền với sự đón nhận,chấp nhận, trao hiến trọn vẹn tình yêu, không phải cho chức linh mục, hay là việc phục vụ trong chức linh mục,mà là cho Chúa Kitô. Đó không chỉ là truyền thống ngàn năm của Giáo Hội,mà là nhận thức đúng đắn ý nghĩa thần học bí tích sâu xa, theo khuôn mẫu của Vị Linh Mục Thượng Phẩm Cao Nhất, Đấng đã lập ra chính bí tích truyền chức và giao cho những người lãnh nhận bí tích nầy một bí tích khác,trọng đại hơn,trọng đại nhất, trọng đại vô song : Thánh Thể Người, mà chỉ linh mục có được độc quyền đọc lời truyền phép để biến chút bánh,chút rượu nên Thịt và Máu Chúa. Ý nghĩa thần học bí tích ấy, đặc sủng độc quyền ấy không thể không được đáp lại bằng một cuộc sống trao hiến xác hồn trọn vẹn,không giữ lại cho mình,không chia sẻ với riêng một ai khác ngoài Chúa Kitô. Không sống độc thân, thì mới là thiếu trung thực, không trưởng thành và chưa hiểu ý nghĩa của đời sống tận hiến trong chức linh mục. Linh mục phải tự thấy hổ thẹn và bất xứng khi để cho suy nghĩ ấy xuất hiện và làm dao động, dù chỉ một chút. Chẳng khác nào ngoại tình trong tư tưởng.
Một dấu hiệu chỉ ra giá trị, sức mạnh và ảnh hưởng của đời sống độc thân linh mục, chính là sự thù ghét của Satan. Hơn bao giờ hết, chiến thuật ngày nay của Satan là tập trung đánh vào Giáo Hội qua linh mục. Là con người, cũng mang những yếu đuối và vì không trung thành với đời sống gắn bó với Thánh Thể,với cầu nguyện, chay tịnh, lơ là với chuỗi hạt mân côi, chạy theo tiện nghi vật chất, nhiều linh mục đã sa ngã và phạm những tội ác, mà Satan tận tình khai thác, dùng các phương tiện truyền thông do các thế lực xấu xa cung cấp, để tấn công Giáo Hội. Những gì các Vị vi phạm cách nay nhiều thập kỷ, nay được Satan phủi lớp bụi thời gian, đưa ra ánh sáng và dùng chúng để bôi nhọ Giáo Hội và hạ uy tín Đức Thánh Cha. Giáo Hội qùy xuống: một Giáo Hội tinh tuyền thánh thiện, không vết nhơ tội lỗi, nay thấy gương mặt bị bôi tro trét trấu. Giáo Hội ấy nay qùy xuống – theo gương Thầy Chí Thánh, Đầu Giáo Hội,là Đứcc Kitô - để tạ lỗi cùng thế gian,tạ lỗi cùng các nạn nhân và kêu gọi con cái gục đầu sám hối, canh tân. Chính thái độ nầy đã khiến Satan chưng chửng, hụt chân và thất bại trong kế hoạch phá hoại Giáo Hội. Khiêm nhường,thống hối,xin tha thứ là những điều Satan không bao giờ có và chính là “gót chân Achille” đã khiến nó bị hình phạt hoả ngục đời đời. Được vậy là nhờ đa số áp đảo các thợ gặt vẫn trung tín với bổn phận, vẫn miệt mài phục vụ và nêu gương, vẫn gắn bó với Thánh Thể và lòng tôn sùng Mẹ Maria. Thiên Chúa đã biến tai ương bất hạnh thành điều may mắn tốt lành và nên một dịp thanh luyện sâu xa Giáo Hội của Người. Không có cuộc giải phẩu nào không gây đau đớn,mất mát,hy sinh. Giáo Hội đang trải qua phép rửa mới bằng nước,lửa và máu. Một nhà văn trẻ Việt Nam có một nhận định sâu sắc :” Scandal về một khía cạnh nào đó không hoàn toàn đáng buồn. Nó chứng tỏ ít ra công chúng vẫn còn chưa đánh mất tính hiếu kỳ. Hơi mỉa mai,nhưng chúng ta nên nhìn sự việc theo cách đó” (Đặng Quang Thiều, An Ninh Thế Giới số Tháng 06.2010,trang 17). Satan và các thề lực xấu xa đánh mạnh vào Giáo Hội và các linh mục, vì chúng sợ hãi,thù ghét. Hạ gục được hàng ngũ giáo sĩ, gây nghi ngờ chia rẽ trong Giáo Hội, hạ uy tín Đức giáo tông, làm cho Giáo Hội hết đáng tin : ma qủy tưởng đã hạ “knock out” được Giáo Hội. Chúng không ngờ “gậy ông đập lưng ông”: ngọn đòn chúng quất mạnh vào Giáo Hội quả là thấm thiá, đau đớn,nhưng lại thức tỉnh những người còn mơ màng hoặc mê ngủ trong Giáo Hội. Nó làm cho Giáo Hội tinh tuyền hơn,mạnh mẽ hơn, vững vàng hơn và nhất là làm cho chức linh mục đi vào qủy đạo đúng đắn. Năm Linh Mục do ơn quan phòng của Chúa, như ngón võ đón đỡ và phản đòn, khiến kế hoạch hiểm ác của Satan phải phá sản. Lớp bụi mờ ô nhiễm rơi ra, được rửa sạch, đã trả lại vẻ đẹp rực rỡ nguyên tuyền của Giáo Hội Chúa và của chức linh mục.
Giờ đây,các tín hữu đã có thể mau mắn,nhiệt tình và thanh thản đáp lại tiếng Chúa kêu gọi :”Nầy con đây, lạy Chúa,xin hãy sai con đi”.
Và linh mục sẽ không còn là “ngôi sao cô đơn” nữa!
TIN MỪNG CHÚA NHẬT XIV TN (Nam C)
Lc 10, 1-12.17-20
ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 56
HÃY HÁT LỜI TÌNH YÊU - THÁNH VỊNH 55
NƠI NGƯỜI CON TÌM CHỐN NÁU NƯƠNG
Bài thơ nhỏ bé này, dù vẫn đầy lời nhắc nhở chúng ta về những hiểm nguy trải qua,những lầm than phải chịu, vẫn giữ được một giọng điệu hân hoan dễ thương, được linh hứng từ sự bảo bọc chở che rất dịu dàng của Thiên Chúa,như ngay từ đầu được diễn tả dưới hình ảnh những chiếc cánh mà người ta nương náu. Hình ảnh chốn tựa nương rất dịu dàng nầy ngự trị trên toàn thánh vịnh, trong đó vẫn không vắng những tiếng kêu cứu. Nhưng người ta cảm thấy chỗ ẩn náu cận kề, nơi người ta biết bất cứ lúc nào cũng tìm lại được sự an toàn. Đây là một lời tôn vinh dâng lên Thiên Chúa, Đấng nhân hậu và gần gũi dường bao, hơn là một lời kêu cứu. Không phải là người ta đã hết gặp hiểm nguy.Nhưng lòng tin cậy là điều mạnh mẽ nhất,một ước ao tôn vinh ca ngợi, hơn là tiếng kêu cứu. Thánh vịnh nầy nhắc nhở những kẻ tin luôn đặt trọn niềm cậy tin nơi Thiên Chúa. Mây mù sẽ trôi qua, mọi hiểm nguy sẽ không còn, cần nhất là tin cậy ẩn náu dưới bóng che chở của Thiên Chúa.